Home TIN TỨC - SỰ KIỆN Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Phá Sản (sửa đổi)

Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Phá Sản (sửa đổi)

Email In PDF.

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

–––––————

Số: 46/BC-TANDTC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2013

BÁO CÁO

GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHÍNH LÝ

DỰ THẢO LUẬT PHÁ SẢN (SỬA ĐỔI)

————————

 

 

        Căn cứ Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII (2011-2016); căn cứ Nghị quyết số 428/2011/NQ-UBTVQH ngày 29-12-2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII; căn cứ Nghị quyết số 45/2013/QH13 ngày 18-6-2013 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 616/NQ-UBTVQH13 ngày 09-7-2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Nghị quyết về Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014; theo sự phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao được phân công chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Dự án Luật Phá sản (sửa đổi).

       Sau khi nhận được ý kiến góp ý của Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa; Cơ quan thường trực Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Tòa án nhân dân tối cao đã tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật phần lớn các ý kiến góp của các cơ quan bộ, ngành nêu trên. Tòa án nhân dân tối cao xin được giải trình, tiếp thu cụ thể như sau:

 

1. Về cơ cấu của Dự thảo Luật và tên gọi của Dự thảo Luật

       Có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế cho rằng, Luật phá sản không nên tập trung vào thủ tục phục hồi mà chủ yếu là giải quyết phá sản. Luật phá sản chỉ chủ yếu là thủ tục phục hồi còn việc thực hiện phục hồi như thế nào là việc giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản. Phần quy định về thủ tục phục hồi trong Luật Phá sản năm 2004 (sau đây viết tắt là Luật PS 2004) còn mờ nhạt.

        Có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế cho rằng nên quy định một chương riêng về phá sản đối với doanh nghiệp nhà nước.

       Có ý kiến cho rằng khi giữ nguyên cơ cấu như Luật PS 2004 (bao gồm quy định về thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây viết tắt là DN, HTX) và thủ tục thanh lý DN, HTX, thì đề nghị sửa lại tên gọi thành Luật về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán nhằm bảo đảm thể hiện đúng bản chất và nội dung các quy định của văn bản Luật.

Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

         Luật PS 2004 quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX và thủ tục thanh lý tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản. Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy, trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, cần kết hợp hài hòa cả hai mục tiêu phục hồi doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản và mục tiêu thanh toán doanh nghiệp bị phá sản như trong Luật Phá sản hiện hành. Tuy nhiên, các quy định về thủ tục phục hồi tại Luật PS 2004 hiện hành còn khá mờ nhạt, cần tạo điều kiện tối đa để DN,HTX phục hồi hoạt động kinh doanh.

        Về vấn đề một chương riêng về phá sản đối với doanh nghiệp nhà nước, Thường trực Ban soạn thảo Dự án Luật Phá sản (sửa đổi) đã cử Thường trực Tổ biên tập làm việc trực tiếp với đại diện Vụ pháp chế Bộ Tài chính và thống nhất rằng theo quy định của Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25-6-2013 về việc ban hành quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước thì Doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước, bao gồm:

a) Doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên-Công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con (sau đây gọi chung là công ty mẹ) do Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ quản lý ngành), Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập;

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (sau đây viết tắt là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập) do Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập;

- Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (viết tắt là SCIC);

b) Doanh nghiệp có vốn nhà nước: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên do các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ sở hữu vốn đầu tư vào doanh nghiệp.

        Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 61 nêu trên, thì “Doanh nghiệp thuộc diện giám sát đặc biệt 02 năm liên tục vẫn thua lỗ thì phải thực hiện chuyển đổi sở hữu hoặc giải thể, phá sản theo quy định.”  Việc giám sát đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu mất an toàn về tài chính là do các cơ quan có thẩm quyền theo dõi và chấn chỉnh theo quy định tại Nghị định số 61 nêu trên. Do vậy, việc phá sản đối với các doanh nghiệp nhà nước theo quy định chung để đảm bảo sự bình đẳng của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh.

        Về tên gọi của Dự án Luật Phá sản (sửa đổi), thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, tên gọi của Dự án Luật là Luật Phá sản (sửa đổi). Mặt khác, nội dung của Luật quy định chủ yếu về trình tự, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Tòa án, mà không quy định cụ thể cách thức xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán.

        Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị giữ nguyên cơ cấu và tên gọi của Dự thảo Luật theo hướng bổ sung một số quy định về thủ tục phục hồi, như bổ sung các quy định về giai đoạn giám sát và cơ quan giám sát vào quá trình thực hiện thủ tục phục hồi; bổ sung các quy định nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng Luật PS 2004, bổ sung các quy định nhằm điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực phá sản…

2. Về đối tượng áp dụng (Điều 2 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Qioosc hội cho rằng cần mở rộng đối tượng áp dụng của Luật Phá sản đối với hộ gia đình có đăng ký kinh doanh nhưng cũng có ý kiến cho rằng không nên suy đoán các đối tượng tham gia thị trường thì phải mở rộng đối tượng áp dụng với chúng.

       Có ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng áp dụng của Luật này là xí nghiệp và tổ hợp tác, các Trường Đại học tư thục, Trường Cao Đẳng tư thục (gọi tắt là cơ sở giáo dục, đào tạo tư thục) được thành lập theo Luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục, hoặc các Tổ chức khoa học công nghệ ngoài công lập được thành lập theo Luật Khoa học công nghệ. 

Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

       Đối với hộ gia đình có đăng ký kinh doanh thì cơ chế quản lý, cơ chế tài chính chưa được quy định rõ ràng, chặt chẽ. Bên cạnh đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của mình; các tranh chấp phát sinh nếu có sẽ được giải quyết theo thủ tục dân sự.

      Theo khoản 2 Điều 51 Luật Giáo dục quy định “2. Quyền đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề theo thẩm quyền quy định thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường ở các cấp học khác” và Quyết định số 07/2009/QĐ-TTg ngày 15-01-2009, Chính phủ quyết định “Ban hành điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học”, các thông tư của Bộ, ngành hướng dẫn về  quy định thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường ở các cấp học khác. Theo đó, những cơ sở giáo dục, đào tạo tư thục thành lập, hoạt động mang tính nghề nghiệp đặc thù và được điều chỉnh theo Luật giáo dục và các văn bản pháp luật khác

       Đối với xí nghiệp được thành lập theo văn bản dưới luật, có mô hình tương tự như doanh nghiệp nhưng không quy định đối tượng này trong Luật Doanh nghiệp. Tòa án nhân dân tối cao cho rằng, về tương lai không nên quy định đối với loại hình này, còn đối với xí nghiệp đang tồn tại thì cần điều chỉnh theo mô hình Luật Doanh nghiệp và giao Chính phủ quy định về sát nhập, giải thể đối với loại hình này.

         Đối với Tổ hợp tác xã thì Tòa án nhân dân tối cao đã thể hiện quan điểm trong Tờ trình (Mục 1 Phần VI) chưa nên mở rộng đối tượng này.

         Ngoài ra, có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng ngoài tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, đề nghị bổ sung doanh nghiệp bảo hiểm.

          Tiếp thu ý kiến này của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và ý kiến của bộ, ngành, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý Điều 2 Dự thảo Luật như sau:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, cụ thể: .

a) Doanh nghiệp theo quy định của Luật này, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán và các quy định khác của pháp luật;

b) Hợp tác xã theo quy định của Luật này bao gồm: hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã.

2. Việc phá sản tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện theo quy định Luật này và  Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật có liên quan.

3.  Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật.

3. Về tiêu chí xác định DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (Điều 3 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng việc quy định thời hạn ba tháng là chưa có căn cứ thực tiễn, chưa đủ rõ, chưa phân biệt rõ tình trạng gặp khó khăn về tài chính và tình trạng gặp khó khăn về trả nợ và tình trạng phá sản; tuy nhiên cũng cần quy định cụ thể khoảng thời gian này để người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản dễ áp dụng và Tòa án cũng dễ xem xét, thụ lý để giải quyết…

         Có ý kiến đề nghị ngoài việc phải xác định rõ thời hạn DN, HTX không thực hiện việc thanh toán được các khoản nợ đến hạn, Luật Phá sản (sửa đổi) cũng cần phải định lượng cụ thể về số tiền nợ quá hạn vì điều này sẽ tạo cơ sở thuận lợi hơn cho các chủ nợ trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như Tòa án trong việc ra quyết định mở thủ tục phá sản.

         Tiếp thu ý kiến nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý Dự thảo Luật theo hướng xác định các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu đồng Việt Nam trở lên trong thời gian ba tháng, kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.

4. Về thẩm quyền của Tòa án (Điều 10 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng nếu chỉ giao thẩm quyền về cấp tỉnh thì Tòa án cấp tỉnh sẽ quá tải, hơn nữa việc giao thẩm quyền cho Tòa án huyện sẽ phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện và thành lập Tòa án khu vực để đúng với tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tuy nhiên, cũng có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng vấn đề giải quyết phá sản là phức tạp, tài sản của DN, HTX ở nhiều nơi, phải đi điều tra xác minh để xác định khối lượng tài sản…do đó nên quy định linh hoạt theo hướng Tòa án nhân dân cấp huyện nào có thể giải quyết được thì giao thẩm quyền cho Tòa án đó.

         Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy ý kiến nêu trên có phần xác đáng. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật PS 2004 cho thấy số lượng đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không nhiều[1]. Phá sản vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ trong văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trong xét xử của hệ thống Tòa án Việt Nam. Mặt khác việc giải quyết phá sản được coi là “siêu vụ án”, việc giải quyết phá sản là phức tạp, với trình độ hiện tại của Thẩm phán và cơ cấu hiện tại của Tòa án cũng như trong tương lai thì việc giải quyết phá sản giao cho Tòa án cấp tỉnh là phù hợp. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị giữ nguyên quy định về thẩm quyền của Tòa án tại Dự thảo Luật. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục nghiên cứu, có thể khảo sát thực tiễn về hướng giao việc giải quyết phá sản cho một số Tòa án khu vực có khả năng giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

5. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán (Điều 11 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

         Có ý kiến đề nghị mặc dù đã giao cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng vẫn nên giữ quy định “do một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán gồm có ba Thẩm phán phụ trách” vì vẫn cần Tổ Thẩm phán để giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có tính chất phức tạp.

        Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng việc xác định tiêu chí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nào có tính chất phức tạp đôi khi là khó khăn, thậm chí làm kéo dài thời gian giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Việc phân định trách nhiệm cũng như quy chế phối hợp giữa các Thẩm phán cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Mặt khác, hướng dẫn như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật PS 2004[2] dẫn đến tình trạng trên thực tế, thì hầu như vụ phá sản nào cũng phải do Tổ Thẩm phán gồm 3 người tiến hành. Quy định này đòi hỏi các Tòa án địa phương, nhất là nơi có những vụ phá sản phức tạp thì phải có nhiều Thẩm phán và điều này trong hiện tại và tương lai gần là rất khó thực hiện được. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đề xuất được giữ nguyên như Dự thảo Luật.

6. Về quản lý, thanh lý tài sản của DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản (các điều 12, 13, 14, 15 và Điều 16 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Về vấn đề này, hầu hết các ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhất trí, đa số các các ý kiến của bộ, ngành đều nhất trí với định hướng giao cho Quản tài viên thực hiện việc quản lý tài sản của DN, HTX.

        Tuy nhiên, một số thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội có ý kiến cho rằng cần cân nhắc để chứng minh tính phù hợp của chế định này đối với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta, tránh tình trạng chỉ đi theo xu hướng chung của thế giới. Ngoài ra, có một số ý kiến đề nghị làm rõ tiêu chuẩn Quản tài viên, cần bổ sung tiêu chuẩn có hiểu biết về quản trị doanh nghiệp, mô hình bổ nhiệm, quản lý Quản tài viên, tác động qua lại giữa Quản tài viên và các chủ thể khác, chấm dứt hoạt động của Quản tài viên, bàn giao tài sản của Quản tài viên và Chấp hành viên.

        Một số ý kiến của bộ, ngành liên quan như sau: đề nghị bổ sung đối tượng là “Tổ chức đại diện cho Hợp tác xã (Liên minh hợp tác xã) là Quản tài viên đối với các Hợp tác xã”, đề nghị bổ sung tiêu chuẩn Quản tài viên phải là những người am hiểu và có kinh nghiệm về quản trị doanh nghiệp, trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản, bổ sung đối tượng là những người người hành nghề đấu giá tài sản, giám định tài chính, công chứng viên…được làm Quản tài viên; không cho phép những người đã có tiền án về các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… (cho dù đã được xóa án tích) được bổ nhiệm làm Quản tài viên. Có ý kiến đề xuất phương án và lộ trình xây dựng, phát triển đội ngũ Quản tài viên...

         Về vấn đề này, tiếp thu các ý kiến nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đã chỉnh lý Dự thảo Luật, theo đó quy định cụ thể về Người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên là Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý có thời gian hành nghề từ 5 năm trở lên. Đồng thời quy định rõ quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên, Quản tài viên phải có trách nhiệm báo cáo đối với Thẩm phán; Thẩm phán, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm tra, giám sát Quản tài viên; quy định điều khoản giới hạn trong trường hợp người có đủ tiêu chuẩn Quản tài viên nhưng có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì không được làm Quản tài viên…; Dự thảo Luật cũng quy định Chính phủ quy định quản lý Quản tài viên, quy trình cấp chứng chỉ Quản tài viên, thủ tục bổ nhiệm, quản lý Quản tài viên.

         Đối với ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng là Tổ chức đại diện cho Hợp tác xã (Liên minh hợp tác xã) là Quản tài viên đối với các Hợp tác xã thì Tòa án nhân dân tối cao cho rằng hạn chế chính của việc quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật PS năm 2004 hiện hành là tính chất kiêm nhiệm của thành phần thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Do vậy, nếu giao cho Tổ chức đại diện cho Hợp tác xã (Liên minh hợp tác xã) là Quản tài viên đối với các Hợp tác xã thì sẽ không khắc phục được hạn chế, vướng mắc này của Luật phá sản hiện hành.

7. Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản (Điều 20 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

         Hầu hết ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đồng ý với nội dung này trong Dự thảo Luật.

       Tuy nhiên, có ý kiến của Bộ, ngành cho rằng cần giữ nguyên như Điều 12 Luật PS 2004, vì trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn thi hành.

         Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng theo quy định tại Điều 12 Luật PS 2004 thì “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân”. Như vậy, Luật PS 2004 không quy định cụ thể trong trường hợp nào thì phải có Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia và mức độ tham gia của việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với từng vụ trường hợp cụ thể đó. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng cần bổ sung quy định cụ thể để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật để đảm bảo quy định này rõ ràng, chi tiết có thể thi thực hiện ngay khi Luật phá sản có hiệu lực, tránh tình trạng luật khung.

8. Về thủ tục thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 38, Điều 39 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Về vấn đề này, hầu hết các ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhất trí, đa số các ý kiến của bộ, ngành đều nhất trí với định hướng quy định thủ tục lượng trược khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Tuy nhiên, có ý kiến của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng cần phải quy định để hạn chế trường hợp đã thương lượng được nhưng sau đó lại phát sinh tranh chấp.

      Về vấn đề này, tiếp thu ý kiến nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Tòa án cho thấy, ngay sau khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thẩm phán giải thích để các bên tự tiến hành thương lượng. Tòa án nhân dân tối cao cho rằng cần bổ sung quy định về phương thức thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản DN,HTX trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ (quy định tại Điều 13 Luật PS 2004)[3]. Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy rằng cơ chế thương lượng là biện pháp hữu hiệu để giúp các bên giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản DN,HTX. Việc thương lượng thành có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội. Tại thời điểm trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, DN,HTX bị lâm vào tình trạng phá sản có quyền thương lượng với người yêu cầu mở thủ tục phá sản không phải với tất cả các chủ nợ. Do đó, hiệu quả của việc thương lượng được sẽ dẫn đến việc bên yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ rút đơn yêu cầu hoặc thương lượng được việc giải quyết các khoản nợ. Tòa án nhân dân tối cao tiếp thu theo hướng làm rõ quy định về thủ tục thương lượng cũng như quyết định công nhận thỏa thuận của các bên.

9. Về quy định lệ phí phá sản, phí phá sản và tạm ứng phí phá sản (Điều 21 Dự thảo)

       Có ý kiến cho rằng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 nêu trên có 2 khoản thu liên quan đến thủ tục phá sản (i) lệ phí phá sản và (ii) phí phá sản, đều được dùng để tiến hành thủ tục phá sản.

       Pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (được quy định tại Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009). Theo Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06-3-2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03-6-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí có tên “phí phá sản”. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về thu, nộp phí phá sản. Do vậy, Bộ Tài chính đề nghị chỉ quy định một khoản thu là “phí phá sản” để giải quyết thủ tục phá sản.

       Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao cho rằng, khoản 6 và khoản 7 Điều 9 của Dự thảo Luật đã định nghĩa rõ: Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (lệ phí phá sản) là khoản tiền mà người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp khi được Tòa án giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản. Phí phá sản là khoản tiền để chi trả cho việc trả thù lao Quản tài viên và các hoạt động khác để quản lý tài sản, thanh lý tài sản do Toà án quyết định. Việc quy định rõ như trên là cần thiết phù hợp với tính chất của việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một loại việc phải nộp lệ phí theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và phí phá sản (chi phí thực tế) cần thiết cho việc thanh toán chi phí phát sinh[4] trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản, đặc biệt là chi phí cho Quản tài viên.

10. Về thủ tục thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 38, Điều 39 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

       Có ý kiến đề nghị các thủ tục trong tố tụng phải do Thẩm phán được giao giải quyết vụ việc phá sản tiến hành, tuy nhiên theo dự án Luật thì thủ tục này lại do Quản tài viên (người được Thẩm phán chỉ định) tiến hành. Mặt khác, trường hợp Tòa án chưa thụ lý vụ việc tức là Tòa án chưa khẳng định Tòa án sẽ giải quyết vụ việc đó, nhưng lại chỉ định Quản tài viên theo yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất mâu thuẫn.

       Có ý kiến cho rằng quy định về thủ tục hòa giải trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không cần thiết và làm chậm trễ quá trình mở thủ tục trong trường hợp DN, HTX đã lâm vào tình trạng khó khăn trầm trọng (không còn tiền hoặc bất cứ tài sản nào) cần sớm tuyên bố phá sản. Ngoài ra, việc quy định về thủ tục hòa giải trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp chủ nợ nộp đơn yêu cầu sẽ tạo cơ chế cho chủ nợ gây sức ép lên doanh nghiệp mắc nợ để được ưu tiên thanh toán, do đó không bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ. Trên thực tế các chủ nợ đã không thỏa thuận được với nhau nên mới đề nghị Tòa án. Hơn nữa trong việc xác định tiêu chí doanh nghiệp lâm vào trong tình trạng phá sản Dự thảo Luật đã dành thời gian 3 tháng kể từ ngày có yêu cầu tuyên bố phá sản cũng là cơ hội cho chủ nợ và con nợ thương lượng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, việc các bên tự hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào đều được khuyến khích và công nhận.

      Về ý kiến này, Tòa án nhân dân tối cao tiếp thu và đã thể hiện trong Dự thảo Luật theo hướng: trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và chủ nợ thống nhất với nhau đề nghị Tòa án quy định khoảnh thời gian nhất định để các bên tự thương lượng với nhau, chứ không phải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết tất cả các đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền ấn định thời gian nhất định nhưng không được quá 6 tháng.

11. Về các giao dịch bị coi là vô hiệu (Điều 64 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

       Hầu hết các thành viên của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhất trí với nội dung này của Dự thảo Luật.

      Có ý kiến của Bộ, ngành đề nghị Dự thảo Luật quy định các giao dịch có mục đích nhằm tẩu tán tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản thực hiện trước ngày Tòa án mở tục tục phá sản bị coi là vô hiệu, và quy định rõ các trường hợp có thể để xác định giao dịch nhằm tẩu tán tài sản. Trên cơ sở đó, Thẩm phán phụ trách giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có trách nhiệm xem xét và quyết định các giao dịch bị coi là vô hiệu...vì trong Dự thảo Luật chưa có quy định cụ thể các trường hợp có thể xác định là giao dịch nhằm tẩu tán tài sản.

      Tiếp thu ý kiến này, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý Dự thảo Luật theo hướng các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện trước ngày Toà án mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu nếu có một trong các căn cứ sau đây: Vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự và văn bản pháp luật có liên quan; có mục đích nhằm tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; giao dịch có giá thấp hơn giá thị trường; giao dịch nhằm đối xử không công bằng giữa các chủ nợ. Đối với việc xác định giao dịch như thế nào là tẩu tán tài sản thì sẽ được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này.

12. Về Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên bố DN, HTX bị phá sản (Điều 117 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

        Có ý kiến cho rằng, không nên quy định về việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản.

       Tiếp thu ý kiến này, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý quy định này theo hướng giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Tuy nhiên, để khắc phục trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Tòa án, người tham gia thủ tục phá sản không biết được khi ra quyết định đó, nếu có đề nghị xem xét lại của người tham gia thủ tục phá sản hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.

13. Về các vấn đề khác

13.1. Về vấn đề thứ tự phân chia tài sản

       Có ý kiến cho rằng cần cân nhắc quy định về thứ tự ưu tiên trả các khoản nợ của các chủ nợ mới sau khi mở thủ tục phá sản so với các khoản nợ lương, trợ cấp… và các quyền lợi khác đối với người lao động. Việc ưu tiên giải quyết quyền lợi của người lao động là chính sách xuyên suốt của Nhà nước ta và cũng phù hợp với kinh nghiệm quốc tế.

Tiếp thu ý kiến nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý khoản 1 Điều 58 Dự thảo Luật như sau:

Điều 58. Thứ tự phân chia tài sản  

1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo thứ tự sau đây: 

a) Phí phá sản;  

b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

c) Các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;  

d) Người gửi tiền, tài sản của khách hàng mở tài khoản giao dịch, tài khoản lưu ký tại tổ chức kinh doanh chứng khoán, thành viên lưu ký và không vướng nghĩa vụ phải trả với các tổ chức này trong trường hợp doanh nghiệp phá sản là tổ chức kinh doanh chứng khoán, thành viên lưu ký, tổ chức tín dụng;

đ) Các khoản nợ thuế, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính; 

e) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

13.2. Về quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản

         Có ý kiến đề nghị cân nhắc chỉ nên quy định hạn chế đối với các đối tượng nắm giữ các chức vụ quản lý doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện hoặc lĩnh vực công ích Nhà nước.

Tiếp thu ý kiến nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao chỉnh lý khoản 2 Điều 132 Dự thảo Luật như sau:

Người nắm giữ các chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện hoặc lĩnh vực công ích nhà nước bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.

       Ngoài các vấn đề chính nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đã tiếp thu các ý kiến khác của thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, các bộ, ngành và đã thể hiện trong Dự thảo Luật trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

       Tòa án nhân dân tối cao đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Dự thảo các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phá sản (sửa đổi).

Tòa án nhân dân tối cao xin kính trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét và cho ý kiến.

 

 

Nơi nhận:

- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

- Uỷ ban Kinh tế Quốc hội;

- Uỷ ban Pháp luật Quốc hội;

- Ủy ban Tư pháp Quốc hội;

- Ủy ban Tài chính, Ngân sách Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chính phủ;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bộ Tư pháp;

- Các Thành viên Ban soạn thảo;

- Lưu VT: VP, Viện KHXX(TANDTC).

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TRƯỞNG BAN SOẠN THẢO

(Đã ký)

Trương Hòa Bình 

 

 

Theo toaan.gov.vn

 

 


[1] Xem Báo cáo tổng kết 9 năm thi hành Luật Phá sản năm 2004

[2] Mục 4.2 Nghị quyết này hướng dẫn như sau: “4.2. Các trường hợp cần phải do Tổ Thẩm phán phụ trách việc tiến hành thủ tục phá sản bao gồm:

a. Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản cần phải giải quyết tranh chấp về khoản nợ; cần phải tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của LPS là vô hiệu; giải quyết vụ án bị đình chỉ mà doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự trong vụ án bị đình chỉ do Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

b. Doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có chi nhánh, văn phòng đại diện, có bất động sản, có nhiều chủ nợ hoặc nhiều người mắc nợ tại nhiều tỉnh khác nhau;

c. Doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có chi nhánh, văn phòng đại diện, có tài sản, có chủ nợ hoặc người mắc nợ ở nước ngoài hoặc trong trường hợp phức tạp khác.

[3] Cụ thể Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) theo hướng: sau khi nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ (Điều 13 của Luật này) thì Tòa án thông báo cho DN,HTX về đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, DN,HTX có yêu cầu để các bên tự thương lượng với nhau thì Toà án ấn định khoản thời gian nhất định để các bên tự thương lượng với nhau nhưng không quá 6 tháng. Trường hợp các bên thương lượng được và rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các bên yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận thì Toà án xem xét ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó. Trường hợp họ không thỏa thuận được thì Tòa án thụ lý và giải quyết.

[4] Xem tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II của Báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 30 Tháng 9 2013 23:03 )  

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

TIÊU ĐIỂM

HÌNH ẢNH CÔNG TY LUẬT HOÀNG MINH

LUẬT HOÀNG MINH

BÀI VIẾT


TRỤ SỞ CÔNG TY

Địa chỉ       : Tầng 5, số 71 Mai Hắc Đế, P. Bùi Thị Xuân, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại : 04.3974 3442 - 04.39743449 - 04.22019779  -  Fax : 04.3974 3449
Hotline      : Ls. Tống Thủy - 098 3399 304 / Ls. Kim Dung - 090 616 3368 (24/24)

Emai          : info@luathoangminh.com  luathoangminh@gmail.com
Website    : http://www.luathoangminh.com  http://www.hoangminhlaw.com

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH

Địa chỉ: P708 D1-CT2 Khu đô thị Tây Nam Linh Đàm, P. Hoàng Liệt, Q. Hoàng Mai, Hà Nội
Hotline: Ls. Tống Văn Thủy – 0983399304. Ls.  Hoàng Kim Dung 0906163368
Emai : info@luathoangminh.com - luathoangminh@gmail.com
Websitehttp://www.luathoangminh.com -  http://www.hoangminhlaw.com

Công ty người mẫu