Home TIN TỨC - SỰ KIỆN Bản tổng hợp ý kiến bộ, ngành về dự án Luật Phá Sản (sửa đổi)

Bản tổng hợp ý kiến bộ, ngành về dự án Luật Phá Sản (sửa đổi)

Email In PDF.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

–––––————

Số: 45/BC-TANDTC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2013

BẢN TỔNG HỢP Ý KIẾN BỘ, NGÀNH

VỀ DỰ ÁN LUẬT PHÁ SẢN (SỬA ĐỔI)

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU ĐƯỢC TRÌNH BÀY TRONG DỰ THẢO TỜ TRÌNH ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
1. Về cơ cấu của Luật Phá sản

     Về vấn đề này, đa số ý kiến bộ ngành đều nhất trí như trong Dự thảo, tuy nhiên còn có những góp ý cần nghiên cứu thêm, cụ thể như sau:

       Bộ Tài chính: Nếu giữ nguyên cơ cấu như Luật Phá sản 2004 (bao gồm quy định về thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây viết tắt là DN, HTX) và thủ tục thanh lý DN, HTX) thì đề nghị sửa lại tên gọi thành Luật về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán nhằm bảo đảm thể hiện đúng bản chất và nội dung các quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

       Bộ Tư pháp: Do các quy định về thủ tục phục hồi tại Luật Phá sản hiện hành còn mờ nhạt nên cần bổ sung một số quy định về thủ tục phục hồi như vai trò của Tòa án trong quá trình phục hồi doanh nghiệp, bổ sung giai đoạn giám sát và cơ quan giám sát vào quá trình thực hiện thủ tục phục hồi, và những vấn đề khác để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng cho việc thực hiện thủ tục phục hồi.

2. Về đối tượng áp dụng (Điều 2 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

      Về vấn đề này đa số các bộ ngành đều nhất trí như trong Dự thảo, tuy nhiên một số bộ ngành còn khác nhau, cụ thể như sau:

       Liên minh hợp tác xã: Đề nghị bổ sung thêm đối tượng áp dụng của Luật này là xí nghiệp và Tổ hợp tác.

       Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa: Đề nghị bổ sung thêm đối tượng áp dụng của Luật này là các Trường Đại học tư thục, Trường Cao Đẳng tư thục (gọi tắt là cơ sở giáo dục, đào tạo tư thục) được thành lập theo luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục, hoặc các Tổ chức khoa học công nghệ ngoài công lập được thành lập theo Luật Khoa học công nghệ. Vì thực tế hiện nay các tổ chức này vẫn hoạt động góp vốn của các thành viên sáng lập (có vốn điều lệ) có huy động vốn kinh doanh và phát sinh lợi nhuận. Như vậy khi thực hiện thủ tục phá sản thì các tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm, tổ chức khoa học công nghệ, cơ sở giáo dục, đào tạo tư nhân thực hiện theo quy định của luật này và các luật chuyên ngành

       Bộ Tài chính: Theo ý kiến Bộ Tài chính, việc quyết định mở rộng hay không mở rộng đối tượng áp dụng Luật Phá sản phải trên cơ sở cân nhắc tổng hòa các nội dung (i) nhu cầu thực tiễn khách quan về mặt kinh tế xã hội; (ii) yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; (iii) quy mô, năng lực của hệ thống tòa án, Thẩm phán có tính đến định hướng phát triển ngành tòa án.

       Đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ (gọi chung là tổ chức kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán), và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện được thành lập và được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật hướng dẫn. Việc phá sản các tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm hiện mới chỉ được Luật Chứng khoán (khoản 2 Điều 75), Luật Kinh doanh bảo hiểm (Điều 83) quy định theo hướng dẫn chiếu một cách chung chung đến pháp luật phá sản, gây khó khăn cho công tác tái cấu trúc thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm. Đây là những định chế hoạt động trong lĩnh vực tương đối nhạy cảm liên quan tới tài sản của nhiều khách hàng, có tác động không chỉ tới các chủ thể tham gia thị trường, mà thậm chí tới cả nền kinh tế. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề nghị việc phá sản tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện theo Luật Phá sản, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật có liên quan. Theo đó, đề nghị sửa lại khoản 2 Điều 2 dự thảo Luật như sau:

“2. Việc phá sản tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện theo quy định Luật này, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật có liên quan”.

        Bộ Tư pháp: Luật Phá sản (sửa đổi) chưa nên quy định theo hướng tất cả các chủ thể có đăng ký kinh doanh nếu lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì đều có thể giải quyết theo thủ tục phá sản. Bởi vì hiện nay vấn đề xác định và kiểm soát tài sản của các cá nhân, hộ gia đình là rất khó khăn. Những đối tượng này có thể lợi dụng những quy định của pháp luật phá sản để trốn tránh trách nhiệm. Ngoài ra, nếu mở rộng theo hướng bổ sung đối tượng hộ gia đình và cá nhân có đăng ký kinh doanh vào phạm vi áp dụng của Luật này thì Tòa án với số lượng, năng lực đội ngũ cán bộ như hiện nay sẽ khó tránh khỏi sự quá tải.

       Ủy ban chứng khoán nhà nước: Đề nghị bổ sung thêm đối tượng áp dụng là Ủy ban chứng khoán

      Ngân hàng nhà nước Việt Nam: Quy định tại Điều 2 khoản 2 Dự thảo Luật là không cần thiết, do đó đề nghị bỏ quy định này tại Dự thảo bởi vì theo hướng dẫn đề nghị xây dựng các quy định liên quan về phá sản tổ chức tín dụng tại Mục I.4 Công văn gửi đến.

3. Về tiêu chí xác định DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (Điều 3 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

       Đa số ý kiến các bộ ngành đều đồng ý theo phương án nên để một khoảng thời gian 03 tháng kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu thì được coi là lâm vào trong tình trạng phá sản là hợp lý. Vì đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp và chủ nợ có cơ hội thay đổi lại yêu cầu của mình như có thể chuyển việc tuyên bố phá sản sang mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số bộ ngành còn có ý kiến góp ý cần nghiên cứu như sau:

         Văn phòng Chính phủ: Thống nhất với việc quy định rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng phá sản , hoặc đủ điều kiện phá sản. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định như phương án do cơ quan soạn thảo đưa ra là chưa phù hợp với thực tiễn và hiệu quả sẽ không cao. Bởi vì việc không thanh toán được khoản nợ đến hạn không có nghĩa là doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cần được quy định trong những điều kiện nhất định (tham khảo Luật Phá sản năm 1993 và Nghị định hướng dẫn thi hành), mặt khác quy định như trên có nguy cơ dẫn đến việc các chủ nợ lạm dụng để nộp đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp, thay vì nỗ lực thực hiện các thủ tục đòi nợ dân sự, cho dù khoản nợ là không lớn. Thủ tục phá sản chỉ là bước cuối cùng trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau 

       Bộ Tư pháp: Ngoài việc cần xác định rõ thời hạn DN, HTX không thực hiện việc thanh toán được các khoản nợ đến hạn, Luật phá sản (sửa đổi) cũng cần phải định lượng cụ thể về số tiền nợ quá hạn vì điều này sẽ tạo cơ sở thuận lợi hơn cho các chủ nợ trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như Tòa án trong việc ra quyết định mở thủ tục phá sản.

       Hiệp hội ngân hàng Việt Nam: Để tránh trường hợp chủ DN, HTX cố tình che dấu, tr hoãn việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước, người lao động vào các chủ nợ, đề nghị Dự thảo sửa đổi như sau:

“DN, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản”

4. Về thẩm quyền của Tòa án (Điều 10 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, các bộ ngành còn có ý kiến khác nhau cụ thể như:

        Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Hiện nay các vụ án tranh chấp kinh tế hiện nay chủ yếu vẫn tập trung ở các đô thị, trình độ Thẩm phán cũng chưa được đồng đều. Tuy nhiên trong tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49/NQ – TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 chúng ta sẽ thành lập các Tòa án Sơ thẩm và Tòa án Trung thẩm. Vì vậy đề nghị khi luật quy định về thẩm quyền của Tòa án cũng bám sát tiến trình cải cách hệ thống Tòa án theo Hiến pháp 1992 ( sửa đổi) và Đề án Cải cách Tư pháp của Bộ Chính trị.

       Bộ Tư pháp: Ủng hộ phương án thứ ba, tức là sửa đổi theo hướng thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, nên quy định theo hướng tăng thẩm quyền cho Thẩm phán nhất là trong việc xử lý những khoản nợ nhỏ mà chi phí cho việc đòi nợ bằng hoặc ít hơn những khoản nợ không nhiều thì Thẩm phán có quyền xem xét miễn đòi. Riêng những khoản nợ khó đòi thì cần quy định điều kiện để Thẩm phán xem xét trình Hội nghị chủ nợ giảm nợ. Có như vậy thì mới có lối thoát cho những khoản nợ nhỏ và những khoản nợ khó đòi đã kéo dài nhiều năm

5. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán (Điều 11 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, đa số bộ ngành đều có ý kiến nhất trí như trong Dự thảo, tuy nhiên một số bộ ngành có ý kiến bổ sung như sau:

      Văn phòng Chính phủ: Việc giao thẩm quyền phụ trách giải quyết thủ tục phá sản cho một hay một Tổ Thẩm phán cần được quy định một cách linh hoạt. Nên cân nhắc quy định cơ chế mềm dẻo hơn, theo đó những vụ việc đơn giản, giá trị tài sản nhỏ sẽ do một Thẩm phán phụ trách, những vụ việc phức tạp, có tính chất chuyên ngành sâu thì Chánh án sẽ quyết định thành lập Tổ Thẩm phán phụ trách.

      Bộ Tài chính: Chúng tôi cho rằng mặc dù đã giao cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng vẫn nên giữ quy định “do một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán gồm có ba Thẩm phán phụ trách” vì vẫn cần Tổ Thẩm phán để giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có tính chất phức tạp.

6. Về quản lý, thanh lý tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (các điều 12, 13, 14, 15 và Điều 16 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, đa số các bộ ngành đều nhất trí với định hướng giao cho Quản tài viên thực hiện việc quản lý tài sản của DN, HTX. Tuy nhiên, một số bộ ngành có ý kiến góp ý, cụ thể như sau:

       Văn phòng Chính phủ: Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc tới năng lực của đội ngũ luật sư tại Việt Nam khi tham gia vào quan hệ pháp luật này . Ở Việt Nam, thiết nghĩ rằng cần có thời gian chuẩn bị để các Luật sư có thể từng bước tham gia vào thủ tục phá sản doanh nghiệp

      Liên minh hợp tác xã Việt Nam: Cần bổ sung thêm đối tượng là “Tổ chức địa diên cho Hợp tác xã (Liên minh hợp tác xã) là Quản tài viên đối với các Hợp tác xã” bởi vì Liên minh hợp tác xã là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, tư vấn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, hợp tác xã thành viên. Liên minh hợp tác xã luôn gần gũi với hợp tác xã, hiểu biết về hợp tác xã. Do đó, khi là Quản tài viên cho Hợp tác xã rất thuận lợi, dễ tiếp cận, Hợp tác xã tin tưởng.

      Bộ Tài chính: Với nhiệm vụ quản lý tài sản của DN, HTX bị mất khả năng thanh toán, giám sát và quản lý hoạt động kinh doanh trong thủ tục phục hồi, đề nghị cân nhắc nếu chỉ quy định tiêu chí lựa chọn Quản tài viên là luật sư có kinh nghiệm hành nghề thì đã là phù hợp chưa(khoản 1 Điều 12 dự thảo), vì để thực hiện các nghĩa vụ của Quản tài viên quy định tại Điều 13 dự thảo Luật, Quản tài viên phải là những người am hiểu và có kinh nghiệm về quản trị doanh nghiệp.

       Ngoài ra, để có thể thực hiện theo mô hình Quản tài viên, đề nghị căn cứ thời điểm dự kiến có hiệu lực của dự án Luật để đưa ra đề xuất phương án và lộ trình xây dựng, phát triển đội ngũ Quản tài viên.

       Đề nghị rà soát lại quy định về quyền, nghĩa vụ của Quản tài viên (Điều 13 Dự thảo) để tránh trùng lắp và không bị trùng với nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên (Điều 16 dự thảo).

       Bộ Tư pháp: Đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số vấn đề cụ thể như sau:

     Thứ nhất, về tiêu chuẩn của Quản tài viên, chúng tôi đề nghị cơ quan soạn thảo nên cân nhắc bổ sung quy định theo hướng không cho phép những người đã từng phạm các tội về lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… cho dù được xóa án tích được bổ nhiệm làm Quản tài viên vì Quản tài viên phải là người trung thực, công tâm và khách quan.

      Thứ hai, cần làm rõ phạm vi nhiệm vụ của Quản tài viên; tư cách pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của Quản tài viên trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết vụ phá sản; việc bàn giao nhiệm vụ của Quản tài viên cho chấp hành viên khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Nhiều nhiệm vụ của Quản tài viên được quy định tại khoản 1 Điều 13 chưa rõ, chẳng hạn điểm c và điểm g khoản 1 Điều 13 là trùng nhau; chưa có định nghĩa về “người mua ngay tình” trong quy định “đăng ký quyền của tài sản để hoàn thiện quyền của tài sản đối với người mua ngay tình” tại điểm h khoản 1 Điều 13; chưa rõ cơ chế bổ nhiệm và trả thù lao cho kế toán, luật sư, nhà chuyên môn... tại điểm h khoản 1 Điều 13; chưa rõ phạm vi giải quyết các vấn đề với nhân viên và người lao động doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại điểm h khoản 1 Điều 13; chưa rõ chủ thể mà quản tài viên phải báo cáo về việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp, hợp tác xã tại điểm h khoản 1 Điều 13; chưa rõ mục đích đề nghị Thẩm phán yêu cầu các cơ quan cung cấp tài liệu chứng cứ tại điểm h khoản 1 Điều 13.

      Thứ ba, về thay thế, bãi miễn Quản tài viên, quy định tại Điều 15 là quá rộng: điểm a khoản 1 Điều này chỉ nên giới hạn trong trường hợp Quản tài viên vi phạm quy định của pháp luật về nghĩa vụ của Quản tài viên hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật dẫn đến không thể hoàn thành nhiệm vụ của Quản tài viên, điểm b khoản 1 Điều này cần loại trừ trường hợp Quản tài viên không hoàn thành nhiệm vụ được giao vì lý do khách quan, không do lỗi của họ và cần bổ sung thêm quy định để hạn chế việc yêu cầu thay thế Quản tài viên nhằm mục đích trì hoãn việc tiến hành thủ tục phá sản (như yêu cầu phải làm rõ lý do trong việc thay thế Quản tài viên). Đồng thời, cơ quan soạn thảo cần xác định rõ các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 15 là căn cứ để Tòa án quyết định hay trường hợp để tòa án cân nhắc thay thế Quản tài viên. Ngoài ra, đề nghị bổ sung quy định “trong vòng 03 ngày làm việc sau khi có quyết định thay thế, Quản tài viên bị thay thế phải bàn giao xong toàn bộ công việc đã thực hiện cho Quản tài viên mới có quyết định thay thế…” bởi nếu quy định chung chung là “ngay sau khi có quyết định thay thế…” có thể gây khó khăn cho Quản tài viên trong việc chuẩn bị hồ sơ, tài liệu… để chuyển giao.

       Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Đề nghị nên mở rộng tiêu chuẩn những người được chỉ định là Quản tài viên thêm đối tượng những người hành nghề đấu giá tài sản, giám định tài chính, công chứng viên…bởi vì nếu Dự thảo luật quy định cứng là chỉ người có thẻ luật sư hoặc có kinh nghiệm hành nghề luật sư 5 năm thì được chỉ định làm Quản tài viên thì sẽ bỏ phí một lực lượng khác khi những người hành nghề đấu giá, giám định tài chính hoặc trong tương lai sẽ hình thành một nghề có chứng chỉ quản tài viên….

      Ủy ban chứng khoán nhà nước: Điều kiện được chỉ định là Quản tài viên: đề nghị bổ sung thêm điều kiện quản tài viên phải là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản

      Ngân hàng nhà nước Việt Nam: Các quy định về Quản tài viên là nội dung rất mới và rất quan trọng trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Các nội dung này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng dựa trên kinh nghiệm của nước ngoài, từ thực tế ở Việt Nam để quy định cho chặt chẽ, phù hợp, khả thi, bảo đảm quyền của các bên trong quan hệ phá sản và bảo đảm việc giải quyết phá sản hiệu quả, nhanh gọn.

7. Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản (Điều 20 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

      Bộ Tư pháp: Việc quy định chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết phá sản cần tiếp tục được nghiên cứu trên cơ sở định hướng sửa đổi bổ sung Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

8. Về thủ tục thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 38, Điều 39 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, các bộ ngành đều nhất trí như trong Dự thảo, tuy nhiên một số bộ ngành có ý kiến góp ý, cụ thể như sau:

      Bộ Tài chính: Đề nghị bỏ các Điều 38 và Điều 39 vì việc hòa giải các bên có thể tự thực hiện và theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, việc các bên tự hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào đều được khuyến khích và công nhận nên việc quy định về thủ tục hòa giải trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không cần thiết và làm chậm trễ quá trình mở thủ tục trong trường hợp DN, HTX đã lâm vào tình trạng khó khăn trầm trọng (không còn tiền hoặc bất cứ tài sản nào) cần sớm tuyên bố phá sản. Ngoài ra, việc quy định về thủ tục hòa giải trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp chủ nợ nộp đơn yêu cầu sẽ tạo cơ chế cho chủ nợ gây sức ép lên doanh nghiệp mắc nợ để được ưu tiên thanh toán, do đó không bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ.

      Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Không nên quy định về thủ tục thương lượng trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, bởi vì trên thực tế các chủ nợ đã không thỏa thuận được với nhau nên mới đề nghị Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết việc công nợ, vì vậy khi không có cơ quan trung gian thì việc tự thương lượng là khó và gần như không đạt hiệu quả. Hơn nữa trong việc xác định tiêu chí doanh nghiệp lâm vào trong tình trạng phá sản dự thảo Luật đã dành thời gian 3 tháng kể từ ngày có yêu cầu tuyên bố phá sản cũng là cơ hội cho chủ nợ và con nợ thương lượng. Vì vậy việc quy định về thương lượng trước khi thụ lý là không cần thiết. Mặt khác, quá trình thương lượng đã được thực hiện trong suốt các giai đoạn khi Tòa án giải quyết mở thủ tục phá sản

       Hiệp hội ngân hàng Việt Nam: Khoản 1: Đề nghị quy định thêm thời hiệu đề nghị thương lượng tính từ thời điểm thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhằm tránh tình trạng thời gian xử lý vụ việc kéo dài.

9. Về các giao dịch bị coi là vô hiệu (Điều 64 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, đa số các bộ ngành đều đồng ý theo Dự thảo, tuy nhiên một số bộ ngành có ý kiến góp ý bổ sung như sau:

      Văn phòng Chính phủ: Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc một số nội dung sau:

      Thứ nhất, trước khi lâm và tình trạng phá sản thì các doanh nghiệp được coi là hoạt động bình thường. Các giao dịch của doanh nghiệp nếu có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi lâm vào tình trạng phá sản các doanh nghiệp có ý định (hoặc có dấu hiệu) tẩu tán tài sản thì mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Để bảo đảm thống nhất các quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác có liên quan, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc đưa ra khoảng thời gian phù hợp để xác định tính vô hiệu của các giao dịch.

      Thứ hai, việc quy định mục đích tẩu tán tài sản như Dự thảo còn chung chung. Đề nghị quy định cụ thể hơn về nội dung, mục đích tẩu tán tài sản.

      Bộ Tư pháp: Đồng tình với quan điểm không nên quy kết tất cả các giao dịch được thực hiện trong khoảng thời gian dù là ba tháng hay một năm trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đều bị coi là vô hiệu mà Tòa án phải phân tích, chứng minh được tính chất “tẩu tán tài sản” của từng giao dịch trước khi tuyên bố nó là vô hiệu. Việc bỏ giới hạn về thời gian và loại giao dịch là cần thiết để đảm bảo thu hồi được tối đa tài sản của doanh nghiệp. Ngoài ra, có những giao dịch dân sự vô hiệu mà không cần Tòa án tuyên bố (như giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật, giao dịch vô hiệu do giả tạo quy định tại Điều 128 và 129 của Bộ luật Dân sự năm 2005) vì vậy khoản 2 Điều 63 dự thảo Luật chỉ nên quy định những tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra điểm b khoản 1 Điều 63 cũng cần phải xác định có thuộc trường hợp Tòa án có tuyên bố thì mới vô hiệu không, và làm rõ hơn quy định “có dấu hiệu bất minh” tại điểm này.

      Bộ Tài chính: Dự thảo Luật quy định các giao dịch có mục đích nhằm tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện trước ngày Tòa án mở tục tục phá sản bị coi là vô hiệu, và quy định rõ các trường hợp có thể để xác định giao dịch nhằm tẩu tán tài sản. Trên cơ sở đó, Thẩm phán phụ trách giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có trách nhiệm xem xét và quyết định các giao dịch bị coi là vô hiệu. Tuy nhiên trong dự thảo Luật chưa có quy định cụ thể các trường hợp có thể xác định là giao dịch nhằm tẩu tán tài sản. Đề nghị rà soát, bổ sung để làm cơ sở thực hiện trên thực tế.

10. Về Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên bố DN,HTX bị phá sản (Điều 117 Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi))

Về vấn đề này, đa số các bộ ngành đều nhất trí như trong Dự thảo. Tuy nhiên, một số bộ ngành còn có ý kiến góp ý như sau:

       Bộ Tài chính: Ủng hộ quan điểm thứ ba, tức là quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Ngoài ra, cũng cần hết sức lưu ý rằng, giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà là một hoạt động kiểm tra, giám sát của Tòa án cấp trên. Hơn nữa, việc xử lý phá sản là rất phức tạp, nếu thực hiện hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm sau khi Quyết định tuyên bố phá sản có hiệu lực và đã phân chia xong tài sản phá sản, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ gây ra hậu quả khó có thể khắc phục về nhiều mặt. Vì vậy, không nên quy định thêm về việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản.

11.Về thủ tục phá sản

       Bộ Tư pháp: Theo Luật Phá sản hiện hành thì Bước 5 (thanh lý tài sản) được thực hiện trước Bước 6 (tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản). Thực tiễn thực thi Luật Phá sản 2004 cho thấy trên thực tế, đã xảy ra không ít trường hợp DN, HTX vẫn còn tài sản nhưng không bán được hoặc còn khoản nợ phải thu nhưng chưa thu hồi được nên phương án phân chia tài sản chưa được thực hiện xong nên chưa thể ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản và ra quyết định tuyên bố phá sản được. Do đó, chúng tôi ủng hộ việc đổi lại Bước 6 lên trước Bước 5, nghĩa là Thẩm phán ra quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản trước khi tiến hành thủ tục thanh lý tài sản.

II. NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC
A. Văn phòng Chính phủ
a) Về nguyên tắc áp dụng các luật hiện hành

Đề nghị cân nhắc một số nội dung tại Điều 2 Dự thảo như sau:

      Thứ nhất, khoản 2 Điều 2 chưa đưa ra được nguyên tắc áp dụng giữa Luật này và các luật khác có liên quan. Trong trường hợp có sự khác nhau và mâu thuẫn giữa luật này và Luật Các tổ chức tín dụng, Luật bảo hiểm tiền gửi … thì luật nào sẽ được ưu tiên áp dụng?

       Thứ hai: Cần có những đánh giá cụ thể về quy trình cũng như quy định phù hợp về phá sản đối với các doanh nghiệp nhà nước. Tờ trình và báo cáo tổng kết chưa thể hiện nội dung phân tích, đánh giá và kiến nghị cụ thể về phá sản đối với các doanh nghiệp nhà nước.

b) Về thứ tự phân chia tài sản (Điều 57)

      Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc quy định ưu tiên trả các khoản nợ của chủ nợ mới sau khi thủ tục phá sản so với các khoản nợ lương, trợ cấp … và các quyền lợi khác đối với người lao động. Việc ưu tiên giải quyết quyền lợi của người lao động là chính sách xuyên suốt của nhà nước ta. Kinh nghiệm quốc tế cũng không có sự thống nhất trong việc ưu tiên quyền lợi của người lao động hay chủ nợ mới.

c) Về quy định cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản. (Điều 131)

Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc, thu hẹp phạm vi những đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản vì:

      Phá sản trong nền kinh tế thị trường là một hiện tượng khách quan nhằm tái có cấu hoạt động kinh doanh, loại bỏ các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém, làm ăn thua lỗ, do đó, không thể coi người điều hành các tổ chức này là “tội phạm”. Nếu quy định trách nhiệm pháp lý nặng nề thì sẽ không khuyến khích được các doanh nghiệp trong việc nộp đơn yêu cầu phá sản.

      Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực kinh doanh nhất định, như kinh doanh có điều kiện hoặc công ích có sự giám sát trực tiếp của nhà nước, việc tiếp tục điều hàng của những người có chức vụ quản lý có thể sẽ gây tác động tiêu cực tới bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế. Do đó, cân nhắc chỉ nên quy định hạn chế đối với các đối tượng nắm giữa các chức vụ quản lý doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện hoặc lĩnh vực công ích nhà nước

B. Bộ Tư pháp

1. Về nội dung trong Dự thảo

a) Về bỏ Điều 5 trong Luật PS 2004

      Chúng tôi cho rằng việc bỏ Điều 5 về thủ tục phá sản là không cần thiết, chỉ cần chỉnh sửa lại để đảm bảo sự thống nhất giữa điều khoản này và các chương trong Luật Phá sản (sửa đổi).

b) Về nộp, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

-  Chúng tôi đồng ý về sự cần thiết bổ sung một số đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (như chủ nợ có bảo đảm, cơ quan bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban chứng khoán nhà nước). Nên có quy định trường hợp tổ chức tín dụng đã áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt mà vẫn mất khả năng thanh toán thì hai cơ quan này sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Ngoài ra, chúng tôi đề nghị nghiên cứu thêm việc bổ sung một số đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản như cơ quan thuế, cơ quan hải quan, cơ quan bảo hiểm xã hội trong trường hợp doanh nghiệp nợ đọng thuế, nợ đóng bảo hiểm xã hội trong một thời hạn nhất định. Cũng cần nghiên cứu thêm việc quy định Cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra chuyên ngành, tổ chức kiểm toán… trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ có liên quan đến DN, HTX mà thấy họ đang lâm vào tình trạng phá sản thì có trách nhiệm thông báo để các chủ nợ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản DN, HTX.

-  Luật Phá sản cần có quy định cụ thể cho phép DN, HTX bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán khi nộp đơn đến tòa có quyền yêu cầu tòa án áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh hay thủ tục thanh lý tài sản. Nếu đề nghị phục hồi thì phải kèm theo kế hoạch, phương án giải trình để Tòa án xem xét đưa ra Hội nghị chủ nợ quyết định, như vậy, việc giải quyết sẽ nhanh và hiệu quả hơn. Trường hợp DN, HTX đề nghị được thanh lý tài sản thì nên có quy định theo hướng sau một thời gian nhất định (có thể là 2 tuần) kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án phải ra quyết định mở thủ tục phá sản ngay vì hiện nay thủ tục yêu cầu phá sản tại Tòa án mất rất nhiều thời gian.

-  Đề nghị xem xét lại yêu cầu DN, HTX khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp kèm theo kết luận kiểm toán tình hình tài chính của DN, HTX trong ba năm liền kề trước ngày nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (khoản 5 Điều 24) vì trên thực tế quy định này không có tính khả thi và đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc mở thủ tục phá sản trong thời gian qua. Ngoài ra, đề nghị bỏ yêu cầu DN, HTX phải nộp kết quả thẩm định giá, định giá giá trị tài sản còn lại của DN, HTX kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

-  Đối với trường hợp trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại điểm e khoản 1 Điều 45 dự thảo Luật, chúng tôi cho rằng, đối với các vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài, Tòa án nước ngoài có thể mở thủ tục phá sản thứ cấp (thủ tục phá sản ở nơi doanh nghiệp có cơ sở kinh doanh hoặc có tài sản mà không phải ở nơi doanh nghiệp có trụ sở chính hay nơi đăng ký kinh doanh). Như vậy có thể xảy ra tình trạng có Tòa án nước ngoài mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp nhưng phạm vi của thủ tục đó chỉ giới hạn với tài sản và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại nước đó. Việc Tòa án trả lại đơn trong trường hợp này sẽ gây khó khăn cho hoạt động rút khỏi thị trường của doanh nghiệp.

-  Chúng tôi đồng ý về sự cần thiết bổ sung trường hợp người nộp đơn không thực hiện việc nộp đơn, bổ sung tài liệu trong thời hạn quy định thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục. Tuy nhiên, chúng tôi không nhất trí việc bổ sung trường hợp người nộp đơn không xác định được địa chỉ của DN, HTX trong thời hạn quy định thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục (tại điểm d khoản 1 Điều 45 dự thảo Luật). Lý do là vì thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp đăng ký thành lập nhưng không hoạt động, hoặc đã chuyển trụ sở đi nơi khác mà không để lại địa chỉ mới. Do vậy, khi có chủ nợ làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó thì không xác định được trụ sở doanh nghiệp nên rất khó xác định thẩm quyền giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, và cũng không đủ điều kiện để Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Ngoài ra, nhiều trường hợp chủ doanh nghiệp là người nước ngoài sau khi kinh doanh thua lỗ bỏ về nước, khi nhận được giấy của Tòa án họ không đến Việt Nam để giải quyết. Luật Phá sản cần phải có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này theo hướng phải có cơ chế để giải quyết phá sản cho những doanh nghiệp này nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nợ, người lao động cũng như lành mạnh hóa môi trường kinh doanh.

-  Chúng tôi đồng ý về việc tăng thời hạn Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản lên bốn mươi lăm ngày (Điều 48). Riêng trường hợp DN, HTX bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán khi nộp đơn đến tòa yêu cầu tòa án áp dụng thủ tục thanh lý tài sản thì thời hạn Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản chỉ nên từ 1 đến 2 tuần.

c) Về nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản

-  Về thứ tự phân chia tài sản (Điều 57), chúng tôi đồng ý việc bảo đảm quyền lợi cho người lao động bằng cách ưu tiên thanh toán cho đối tượng này trước, sau đó mới đến các chủ nợ khác. Chúng tôi cũng đồng ý về việc bổ sung một số nghĩa vụ về tài sản vào thứ tự phân chia tài sản như các khoản nợ thuế, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính… Tuy nhiên, về đối tượng người gửi tiền, trên thực tế người gửi tiền đã được bảo đảm quyền lợi bằng cơ chế bảo hiểm tiền gửi, vì vậy đề nghị làm rõ tại sao người gửi tiền nên được ưu tiên hơn trong quá trình phá sản doanh nghiệp so với các chủ nợ không có bảo đảm khác (điểm d khoản 1 Điều 57).

-  Khoản 3 Điều 33 và khoản 2 Điều 51 cần làm rõ trường hợp đặc biệt là trường hợp nào, có trùng với trường hợp đặc biệt tuyên bố phá sản theo quy định tại Điều 87 dự thảo Luật không.

-  Điều 34 cần thêm cụm từ “kể cả” các khoản nợ mới hoặc chủ nợ mới xuất hiện vào thời điểm mở thủ tục thanh lý.

-  Điều 39 dự thảo Luật cần làm rõ bên có nghĩa vụ liên đới và bên bảo lãnh đã trả nợ thay trở thành chủ nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp. Khoản 2 của Điều này cần sửa đổi theo hướng xử lý chấm dứt hợp đồng giữa người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh vì đương nhiên người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ với người bảo lãnh; trường hợp người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì người bảo lãnh mới thực hiện thay. Phần nội dung bổ sung chưa rõ về cách thức xử lý “người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh đều bị phá sản thì nghĩa vụ với người nhận bảo lãnh đều được xử lý như nhau”.

-  Quy định tại khoản 3 Điều 40 chưa giải quyết được vấn đề trường hợp tài sản thuê hoặc mượn đã bị doanh nghiệp chuyển nhượng không có sự đồng ý của người cho thuê hoặc cho mượn. Dự thảo quy định chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường với tài sản đó như khoản nợ có bảo đảm. Tuy nhiên, khoản nợ có bảo đảm được xử lý trước do đã có tài sản bảo đảm hoặc có người thực hiện nghĩa vụ thay. Trong trường hợp này, không xác định được cụ thể tài sản bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ thay cho nên dự thảo Luật cần quy định chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại tài sản đó theo quy định của Điều 256 Bộ luật Dân sự, nếu không đòi lại được thì có quyền yêu cầu doanh nghiệp đã thuê hoặc mượn tài sản bồi thường thiệt hại. Điều 42 cần có định hướng rõ hơn về tiêu chí để xác định người bán là chủ nợ có bảo đảm hay không có bảo đảm, ai là người có thẩm quyền xác định.

-  Phù hợp với các quy định trong Luật Doanh nghiệp về trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân, khoản 2 Điều 69 dự án Luật phá sản quy định việc không miễn trừ nghĩa vụ tài sản của các đối tượng này sau khi có quyết định tuyên bố công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân bị phá sản. Tuy nhiên, dự án Luật phá sản nên xác định những tài sản của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân được miễn trừ khỏi tài sản của doanh nghiệp bị phá sản (bao gồm đồ dùng sinh hoạt tối thiểu, trợ cấp cho cá nhân, tiền lương hưu …) để đảm bảo tính chất nhân đạo của pháp luật phá sản và cũng là phù hợp với thông lệ quốc tế.

d) Về Hội nghị chủ nợ

- Chúng tôi đồng ý việc bổ sung quy định về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu cũng như trong trường hợp chủ nợ/đại diện người lao động yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ không đến tham gia hoặc không cử đại diện tham gia tại Điều 67 dự thảo Luật phá sản (sửa đổi).

-  Ngoài ra, việc triệu tập Hội nghị chủ nợ cần được thực hiện khi có đề xuất thay đổi phương án sản xuất kinh doanh hoặc cần có ý kiến của Hội nghị chủ nợ về phương án sản xuất kinh doanh đó.

-  Về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, không nên dỡ bỏ toàn bộ những điều cấm, hạn chế đối với hoạt động của doanh nghiệp quy định tại Điều 31Dự thảo Luật. Theo quy định của Điều 72 Dự thảo Luật, việc dỡ bỏ những hạn chế này chỉ nên được thực hiện trong phạm vi mà Hội nghị chủ nợ đồng ý hoặc phù hợp với việc tiến hành phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

-  Về giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, chủ nợ là người có quyền trong việc giám sát thực hiện phương án này (không phải nghĩa vụ), vì thế cần có cơ chế để các chủ nợ thực hiện quyền của mình (thông qua ban đại diện hoặc người đại diện) mà không cản trở quá trình hoạt động kinh doanh theo phương án đã được thông qua. Đồng thời, cần có cơ chế để Thẩm phán ra quyết định trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng phương án đã được công nhận gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ.

e) Về nghĩa vụ về tài sản sau khi có Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản

-  Chúng tôi đồng ý việc bổ sung quy định chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh không được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với chủ nợ chưa được thanh toán nếu (i) trì hoãn việc làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà không có lý do chính đáng; hoặc (ii) có hành vi tẩu tán, hủy hoại, sử dụng hoang phí tài sản trước và sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản; (iii) vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ hợp tác với Tòa án, Hội nghị chủ nợ, Quản tài viên trong quá trình giải quyết vụ phá sản… Ngoài ra, đề nghị bổ sung thêm trường hợp “đã được hưởng quy chế giải phóng nợ trong một vụ phá sản khác trong thời hạn 5 năm trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc phá sản”.

g) Về tạm đình chỉ thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

-  Đề nghị bổ sung thêm trường hợp “các bản án mà theo đó doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ phải trả lại tài sản do mình đã chiếm hữu của người khác một cách bất hợp pháp” vào khoản 1 Điều 27.

h) Về đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản

      Đề nghị bổ sung vào Điều 67 quy định về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản khi có người tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt, hoặc khi người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu trong đó có quy định về việc tiếp tục giải quyết các vụ án hoặc tiếp tục thi hành án dân sự đã bị đình chỉ do mở thủ tục phá sản. Thẩm phán sau khi ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản thì phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền để tiếp tục giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật.

i) Về thi hành Quyết định tuyên bố phá sản

      Khoản 2 Điều 120 không thể thực hiện được nếu không có các quy định về công nhận thủ tục phá sản nước ngoài hoặc công nhận quyết định, bản án của tòa án, trọng tài nước ngoài. Pháp luật về ủy thác tư pháp không quy định về vấn đề này.

       Về xử lý vi phạm, quy định cấm một số đối tượng đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp do họ quản lý bị tuyên bố phá sản là biện pháp chế tài thể hiện sự không tin tưởng đối với họ khi họ có lỗi trong việc quản lý doanh nghiệp dẫn đến việc phá sản của doanh nghiệp. Theo chúng tôi, đây không phải là quy định xử lý vi phạm quy định pháp luật của người này, vì vậy không nên để Điều 94 ở Chương XI xử lý vi phạm.

k) Về phá sản có yếu tố nước ngoài

      Nhiều quốc gia trên thế giới có chương riêng trong Luật Phá sản của mình quy định về các vấn đề phá sản có yếu tố nước ngoài hoặc có Luật riêng về phá sản có yếu tố nước ngoài (như Anh). Vì vậy, việc nghiên cứu tập hợp các quy định về phá sản có yếu tố nước ngoài để quy định tập trung, thống nhất áp dụng là phù hợp với xu hướng pháp luật phá sản trên thế giới hiện nay. Từ hoạt động thực tiễn, Bộ Tư pháp nhận thấy, có nhiều vụ việc phức tạp đã diễn ra có liên quan đến thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài nên việc quy định cụ thể về các vấn đề phá sản có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết.

       Như vậy, cần có một chương riêng trong Luật Phá sản của nước ta quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam với các vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài; công nhận thủ tục phá sản ở nước ngoài và hậu quả của việc công nhận đó; các biện pháp hỗ trợ của Tòa án Việt Nam cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc giải quyết các vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài tại các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đó.

      Ngoài ra, quy định về “căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản” nêu tại Điểm e, Khoản 2 Điều 22 và Điểm đ, Khoản 2, Điều 23 là chưa rõ ràng, gây khó hiểu và khó chuẩn bị cho đối tượng thực hiện thủ tục. Cần nêu cụ thể căn cứ ở đây là dẫn chiếu đến văn bản quy phạm pháp luật hay căn cứ trên tình trạng thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản...

      Về hồ sơ nêu tại Điểm a Khoản 5 Điều 24, đề nghị sửa đổi yêu cầu nộp báo cáo tài chính thành 02 trường hợp: trường hợp doanh nghiệp thành lập và đi vào hoạt động được trên 03 năm thì nộp báo cáo tài chính trong 03 năm liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 02 năm thì nộp báo cáo tài chính các năm trước đó

2. Về ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản

a) Đề nghị chỉnh sửa thời hạn giải quyết nêu tại Dự thảo thành "ngày làm việc", đảm bảo tính thống nhất và hợp lý, bởi nếu tính ngày bình thường thì trường hợp rơi vào dịp nghỉ lễ, tết... sẽ thiệt thòi hơn so với các trường hợp khác, do đó đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét để ngày làm việc cho tất cả các thời hạn được quy định trong dự thảo.

b) Tại Khoản 1 Điều 18, 19 dẫn chiếu sai đến Điều 18, thực tế phải là Điều 17, do đó đề nghị cơ quan chủ trì chỉnh sửa, hoàn thiện lại. 

c) Khoản 3 và khoản 4 tại Điều 19 là trùng nhau; điểm n khoản 2 và khoản 3 Điều 11 là trùng nhau; điểm c và điểm g khoản 1 Điều 13 là trùng nhau.

d) Đề nghị bỏ cụm từ “không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần” tại điểm d khoản 1 Điều 22 vì theo dự thảo mới thì chủ nợ có bảo đảm cũng có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. 

đ) Đề nghị làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong dự thảo, chẳng hạn như làm rõ thế nào là “kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” tại Khoản 6 Điều 24, “người mua ngay tình” tại điểm h khoản 1 Điều 13, “do không khách quan” tại khoản 3 Điều 29 và điểm g khoản 1 Điều 45; ai “trở thành chủ nợ không có bảo đảm” tại Điều 62, ai là “đại diện quản lý phá sản” tại điểm h khoản 1 Điều 13; thế nào là “tham khảo” và “không tham khảo” tại Điều 8.

e) Dự thảo còn có một số lỗi chính tả quan trọng cần sửa lại, chẳng hạn như từ “đó” tại Điều 56, 61 cần sửa lại thành từ “đã”.

C. Bộ Tài chính

a) Về giải thích từ ngữ (Điều 9 Dự thảo):

       Đề nghị bổ sung giải thích về tổ chức kinh doanh chứng khoán như sau: “Tổ chức kinh doanh chứng khoán theo quy định của Luật này bao gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chứng khoán”

b) Về quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục của Uỷ ban chứng khoán (Điều 29 Dự thảo):

       Căn cứ vào thực tiễn quản lý, giám sát tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như và thông lệ quốc tế, Bộ Tài chính đề nghị bỏ Điều 28 tại Dự thảo (về Thẩm quyền nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản của Uỷ ban chứng khoán), bởi vì:

      Thứ nhất, vai trò quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán đã được quy định trong pháp luật chứng khoán, chỉ hạn chế trong hoạt động cấp phép và quản lý giám sát hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng, nhà đầu tư. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chủ nợ, chủ sở hữu (cổ đông, thành viên góp vốn) của các tổ chức kinh doanh chứng khoán trước hết thuộc về chính các tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan này;

      Thứ hai, vì các lý do khách quan (thực trạng tài chính, bản chất các hợp đồng kinh doanh…) mà việc Uỷ ban chứng khoán chủ động nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản thậm chí rất có thể không góp phần bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan (chủ nợ, cổ đông/thành viên góp vốn…), tiềm ẩn rủi ro cho cơ quan quản lý nhà nước khi can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

      Thứ ba, từ tham khảo kinh nghiệp quốc tế cho thấy không quốc gia nào cho phép cơ quan quản lý giám sát chuyên ngành nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản doanh nghiệp

c) Về quy định yêu cầu chỉ định Quản tài viên (Điều 30 dự thảo)

       Tại khoản 3 có quy định: “Trong trường chủ nợ, người đại diện chủ nợ không đồng ý chỉ định Quản tài viên thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong trường hợp một hoặc một số chủ nợ, người đại diện chủ nợ không đồng ý chỉ định quản tài viên thì Thẩm phán không chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người đó.”

       Đề nghị bỏ quy định này vì thủ tục phá sản là để xử lý các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, theo đó Thẩm phán chỉ trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục khi doanh nghiệp không bị mất khả năng thanh toán. Nếu vì chủ nợ không đồng ý chỉ định quản tài viên mà Thẩm phán trả lại đơn trong khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán là không đúng với mục tiêu của thủ tục phá sản.

d) Về quy định lệ phí phá sản, phí phá sản và tạm ứng phí phá sản (Điều 21 dự thảo)

Quy định tại Điều 21 có một số vấn đề như sau:

- Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 nêu trên có 2 khoản thu liên quan đến thủ tục phá sản (i) lệ phí phá sản và (ii) phí phá sản, đều được dùng để tiến hành thủ tục phá sản.

       Pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (được quy định tại Pháp lệnh về án phí, lệ phí tòa án năm 2009). Theo Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí có tên “phí phá sản”. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về thu, nộp phí phá sản.

       Bộ Tài chính đề nghị chỉ quy định một khoản thu là “phí phá sản” để giải quyết thủ tục phá sản. Đề nghị TANDTC trên cơ sở thực tiễn thực hiện Luật từ năm 2004 đến nay, đánh giá vướng mắc liên quan đến kinh phí phục vụ cho hoạt động thụ lý đơn yêu cầu phá sản và giải quyết phá sản, dự kiến nội dung chi thù lao cho Quản tài viên để đề xuất nội dung quy định hợp lý về phí phá sản.

-  Đề nghị quy định cụ thể về “tài sản khác” tại khoản 3 để tránh vướng mắc trong quá trình thực hiện.

e) Đề nghị bỏ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 45 Dự thảo, theo đó tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp người nộp đơn không nộp tiền lệ phí, tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Tòa án ấn định, vì quy định trên là không hợp lý trong trường hợp người nộp đơn là doanh nghiệp mắc nợ không còn tiền, tài sản để tạm ứng phí phá sản, đối với những doanh nghiệp này cần chấm dứt sự tồn tại để bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh.

g) Tại Điều 55 Dự thảo về xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố có quy định: “Trường hợp Thẩm phán tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã”.

       Đề nghị quy định rõ phần nợ còn lại chưa được thanh toán bằng giá trị tài sản cầm cố, thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán như khoản nợ không có bảo đảm hay được ưu tiên thanh toán vì Điều 57 dự thảo về thứ tự phân chia tài sản không quy định về nội dung này.

h) Tại Điều 57 về thứ tự phân chia tài sản:

-  Quy định tại Điều này mới chỉ đề cập đến phí phá sản (do tòa án quyết định - Điều 40 dự thảo), tuy nhiên chưa quy định chi phí thanh lý tài sản (do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện) có được thanh toán từ tài sản của doanh nghiệp phá sản hay không, nếu có thì thủ tục để tòa án công nhận và quyết định chi phí thanh lý tài sản như thế nào.

-  Đề nghị bổ sung thêm vào sau điểm a khoản 1 Điều này quy định ưu tiên thanh toán các khoản tiền nhận đặt cọc, các khoản tiền gửi trong giao dịch chứng khoán, chứng khoán trên tài khoản lưu ký của khách hàng của công ty chứng khoán, so với các đối tượng có quyền lợi liên quan (nhân viên, chủ nợ…).

-  Đề nghị bổ sung vào điểm d khoản 1 Điều này đối tượng là “người được bảo hiểm, người thụ hưởng” được phân chia tài sản cùng thứ tự ưu tiên với “người gửi tiền”. 

i) Tại điểm b khoản 3 Điều 59 về nghĩa vụ tài sản trong trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều lâm vào tình trạng trạng phá sản có quy định: “Trường hợp việc bảo lãnh được thực hiện đúng quy định của pháp luật thì thì người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều phải chịu nghĩa vụ liên đới, mỗi bên chịu một nửa nghĩa vụ về tài sản.”

        Đề nghị quy định rõ, trong trường hợp này thì khoản nợ được bảo đảm bằng bảo lãnh sẽ được thanh toán như khoản nợ có bảo đảm hay không có bảo đảm khi thanh lý tài sản của người được bảo lãnh. Ngoài ra, đề nghị bỏ đoạn “mỗi bên chịu một nửa nghĩa vụ về tài sảnvì không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ liên đới (khoản 1 Điều 298 Bộ Luật Dân sự).

k) Về tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (Điều 69 Dự thảo)

        Trường hợp doanh nghiệp phá sản là tổ chức kinh doanh chứng khoán, đề nghị bổ sung khoản 3 vào Điều 69 Dự thảo Luật các loại tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá sản (vì đây là những tài sản thuộc về khách hàng, thuộc về nhà đầu tư mà tổ chức kinh doanh chứng khoán chỉ đứng ra cung cấp dịch vụ quản lý, hoàn toàn không thuộc sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán), bao gồm:

-  Tài sản ủy thác của khách hàng trong nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán;

-  Tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trú, chương trình hưu trí tự nguyễn, bổ sung;

-  Tài sản nhận gửi giữ hộ của khách hàng.

m) Dự thảo Luật chưa có quy định về:

-  Việc chấm dứt hoạt động của quản tài viên;

-  Bàn giao tài sản, công việc giữa quản tài viên và chấp hành viên;

-  Trường hợp doanh nghiệp bị phá sản không còn tài sản để thanh lý thì người đã tạm ứng phí phá sản khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục có được hoàn trả phí phá sản hay không (trong trường hợp người tạm ứng phí phá sản không phải là doanh nghiệp phá sản) và cũng chưa có quy định về hoàn trả phí phá sản trong thủ tục phục hồi doanh nghiệp.

- Thủ tục phá sản trong trường hợp chủ hoặc người đại diện hợp pháp doanh nghiệp mắc nợ đã bỏ trốn.

n) Về nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh (khoản 2 Điều 108 Dự thảo) đề nghị bổ sung trường hợp hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp cũng là một trong các biện pháp cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh.

l) Về trình tự, thủ tục phá sản

       Trình tự, thủ tục phá sản được sửa đổi theo hướng Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản trước khi tiến hành thủ tục thanh lý tài sản. Quy định này nhằm khắc phục khó khăn thực tế là DN, HTX vẫn còn tài sản nhưng không bán được hoặc còn khoản nợ phải thu nhưng chưa thu hồi được nên phương án phân chia tài sản chưa thực hiện xong do đó chưa thể ra quyết định tuyên bố phá sản.

       Định hướng sửa đổi này là theo quy định về trình tự, thủ tục phá sản tại Luật Phá sản 1993. Trong quá trình nghiên cứu sửa đổi Luật Phá sản 1993, nội dung này là một trong những điểm bất cập, vướng mắc chính gây nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện và vì thế đã được sửa đổi như quy định tại Luật PS 2004. Do đó, đề nghị nghiên cứu kỹ các vướng mắc của Luật năm 1993 để đề xuất các biện pháp khắc phục phù hợp

D. Ủy ban chứng khoán nhà nước

a) Về thẩm quyền Uỷ ban chứng khoán trong thủ tục phá sản

       Căn cứ vào thực tiễn quản lý, giám sát tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như và thông lệ quốc tế Uỷ ban chứng khoán nhà nước kiến nghị bỏ Điều 28 tại Dự thảo (về thẩm quyền nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản của Uỷ ban chứng khoán nhà nước). Lý do như sau:

      Thứ nhất, vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban chứng khoán nhà nước đã được quy định trong pháp luật chứng khoán, chỉ hạn chế trong hoạt động cấp phép và quản lý giám sát hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng, nhà đầu tư. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chủ nợ, chủ sở hữu (cổ đông, thành viên góp vốn) của các tổ chức kinh doanh chứng khoán trước hết thuộc về chính các tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan này;

      Thứ hai, vì các lý do khách quan (thực trạng tài chính, bản chất các hợp đồng kinh doanh…) và thực tiễn tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán trong thời gian gần đây cho thấy việc Ủy ban chứng khoán nhà nước chủ động nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản thậm chí rất có thể không góp phần bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan (chủ nợ, cổ đông/thành viên góp vốn, khách hàng…), tiềm ẩn rủi ro cho cơ quan quản lý nhà nước khi can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

      Thứ ba, qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Uỷ ban chứng khoán nhà nước chưa tìm được quốc gia nào cho phép cơ quan quản lý giám sát chuyên ngành, cụ thể là các Uỷ ban chứng khoán, Ủy ban giám sát tài chính nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;

     Thứ tư, tại Việt Nam, thì Cục Giám sát bảo hiểm, Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng, cũng giống như Uỷ ban chứng khoán nhà nước, không thực hiện việc nộp đơn đề nghị phá sản các doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng.

        Do vậy, Uỷ ban chứng khoán nhà nước đề xuất bỏ Điều 28 về việc cho phép Uỷ ban chứng khoán nhà nước có quyền nộp đơn đề nghị mở thủ tục phá sản đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Thay vào đó, Uỷ ban chứng khoán nhà nước đề nghị bổ sung Điều 29 (tại Dự thảo) quy định giống như các tổ chức tín dụng, nghĩa là, yêu cầu các tổ chức kinh doanh chứng khoán buộc phải nộp đơn phá sản nếu như không khắc phục được sau thời gian bị đình chỉ hoạt động do không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính. Tại Điều 29, Uỷ ban chứng khoán nhà nước cũng đã dự thảo quy định về hồ sơ nộp đơn phá sản các tổ chức này.

b) Về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư (Điều 57, Điều 69) và vấn đề đặc thù đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán (Điều 2, Điều 3)

      Theo nguyên tắc số 32 của Các tổ chức ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO), việc phá sản các tổ chức kinh doanh chứng khoán phải bảo đảm bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư/khách hàng của tổ chức kinh doanh chứng khoán. Về nguyên tắc, nhà đầu tư không tham gia kinh doanh hưởng lợi từ hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán, không phải là các chủ nợ, chủ sở hữu của các tổ chức này. Các tài sản mà khách hàng/nhà đầu tư đặt tại các tổ chức này không phải là tài sản của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, mà chỉ là tài sản được nhận giữ hộ. Vì vậy, mọi lợi ích của nhà đầu tư phải được bảo đảm triệt để.

Trên cơ sở đó, Uỷ ban chứng khoán nhà nước kiến nghị

-  Bổ sung thêm điểm b tại Khoản 1 Điều 57 Thứ tự phân chia tài sản, theo đó các khoản tiền nhận đặt cọc, các khoản tiền gửi trong giao dịch chứng khoán, chứng khoán trên tài khoản lưu ký của khách hàng của công ty chứng khoán, phải được ưu tiên thanh toán trước mọi đối tượng có quyền lợi liên quan (nhân viên, chủ nợ…).

- Bổ sung thêm khoản 2 Điều 69 Tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản như sau: “2. Trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là tổ chức kinh doanh chứng khoán, ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát, thì các tài sản sau không được coi là tài sản của doanh nghiệp:

a) Tài sản ủy thác của khách hàng trong nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán;

b) Tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí, chương trình hưu trí tự nguyện, bổ sung;

c) Tài sản nhận gửi giữ hộ của khách hàng.

       Đây là những tài sản thuộc về khách hàng, thuộc về nhà đầu tư mà tổ chức kinh doanh chứng khoán chỉ đứng ra cung cấp dịch vụ quản lý, hoàn toàn không thuộc sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán, do vậy đề nghị miễn trừ những loại tài sản trên khỏi tài sản phá sản của tổ chức kinh doanh chứng khoán.

      Cũng liên quan đến nguyên tắc này, Uỷ ban chứng khoán nhà nước kiến nghị một số bổ sung, điều chỉnh về trình tự, thủ tục đặc thù đối với việc phá sản các tổ chức kinh doanh chứng khoán như sau:

-  Điều chỉnh quy định tại Khoản 2 Điều 4. Hiệu lực của Luật Phá sản, như sau: Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật Phá sản và quy định của luật khác về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Phá sản, trừ đối tượng áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 2 của luật này”.

c) Tại Điều 9 Giải thích từ ngữ: đề nghị chuyển các quy định về giải thích từ ngữ ngay sau Điều 4 về hiệu lực của Luật Phá sản;
d) Tại Khoản 1 Điều 17 Quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản: đề nghị xem xét lại do trùng lắp với quy định tại đoạn 2 Điều 7 bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong thủ tục phá sản;
e) Tại Khoản 1 Điều 18 và khoản 1 Điều 19: đề nghị sửa thành “Các quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản quy định tại Điều 17 Luật này”
f) Tại Khoản 6 Điều 24 Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản: đề nghị làm rõ trách nhiệm của chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã khi không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật nào?);
g) Tại Khoản 3 Điều 41 Nguyên tắc xác định mức thu lệ phí phá sản, phí phá sản: đề nghị xem xét lại do trùng lắp với quy định tại khoản 9 Điều 9 giải thích từ ngữ “tạm ứng phí phá sản”;
h) Tại Điểm b, c khoản 3 Điều 45 Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: đề nghị quy định rõ để phân biệt giữa người nộp đơn có quyền nộp đơn và người nộp đơn có đủ điều kiện nộp đơn;
i) Tại Điều 54 Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn: đề nghị sửa lại như sau “Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn của các chủ nợ mới hình thành từ sau thời điểm mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố phá sản …”;
j) Tại Điểm d khoản 1 Điều 57 Thứ tự phân chia tài sản: đề nghị sửa lại thành “các khoản tiền gửi” để thống nhất với quy định về phí và các khoản nợ tại điểm a, b, c và đ;
k) Tại Khoản 2 Điều 106 Giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản: đề nghị xem xét lại do không còn tồn tại quy định về “Tổ Thẩm phán”;
l) Tại Khoản 2 Điều 108 Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh: đề nghị bổ sung trường hợp hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp cũng là một trong các biện pháp cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh.
m) Đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp không đáp ứng khả năng thanh toán theo quy định pháp luật được tự nguyện giải thể trên cơ sở thỏa thuận giữa doanh nghiệp và hội nghị chủ nợ, đại hội đồng cổ đông thay vì phải tiến hành yêu cầu mở thủ tục phá sản nhằm rút ngắn thủ tục giải thể, phá sản của doanh nghiệp.

E. Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Về việc phá sản tổ chức tín dụng

a) Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật phá sản 2004: “Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu” Để hướng dẫn việc phá sản của các tổ chức tín dụng, ngày 18/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 05/2010/NĐ-CP quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng (sau đây gọi là Nghị định 05/2010/NĐ-CP). Tuy nhiên, Nghị định 05/2010/NĐ-CP ngoài một số quy định hướng dẫn có tính đặc thù đối với việc phá sản của các tổ chức tín dụng thì nội dung chủ yếu là dẫn chiếu đến các quy định của Luật PS 2004.

b) Theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng thì hoạt động của các tổ chức tín dụng có những điểm đặc thù so với hoạt động của các doanh nghiệp khác, cụ thể:

- Hệ thống các tổ chức tín dụng được quản lý bởi cơ quan chuyên ngành là ngân hàng nhà nước (sau đây viết tắt là NHNN). Khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, NHNN sẽ áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng (Mục 1, Chương VIII Luật các tổ chức tín dụng). Trong quá trình áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt, NHNN áp dụng nhiều biện pháp để phục hồi hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng (Điều 148, Điều 149 Luật các tổ chức tín dụng).

- Trong quá trình NHNN áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng để duy trì khả năng thanh toán, chi trả, phục hồi hoạt động, NHNN có thể cho tổ chức tín dụng vay khoản vay đặc biệt. Khoản vay đặc biệt sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ có tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng (Điều 151 Luật các tổ chức tín dụng).

- Sau quá trình kiểm soát đặc biệt, trường hợp tổ chức tín dụng không khôi phục được khả năng thanh toán, NHNN chấm dứt kiểm soát đặc biệt và có văn bản chấm dứt việc áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán gửi Tòa án (khoản 3 Điều 152 Luật các tổ chức tín dụng).

Như vậy, với việc áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng, mặc dù thủ tục này ở giai đoạn tiền phá sản thì với tính chất và mục đích của thủ tục này có thể được coi là tương tự như thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp khác.

c) Về phá sản tổ chức tín dụng, Điều 155 Luật các tổ chức tín dụng cũng quy định:

1. Sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn lâm vào tình trạng phá sản, thì tổ chức tín dụng đó phải làm đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.

2. Khi nhận được yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản và áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về phá sản”.

d) Từ những cơ sở trên, để phù hợp với đặc thù của tổ chức tín dụng, thống nhất với quy định của Luật các tổ chức tín dụng, NHNN đề nghị tại dự thảo Luật phá sản (sửa đổi) có 1 điều quy định về phá sản tổ chức tín dụng hoặc có các quy định ở các điều có liên quan của dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) với các nội dung như sau:

- Tòa án chỉ ra quyết định mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng khi có văn bản của NHNN chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán đối với tổ chức tín dụng.

- Khi giải quyết phá sản tổ chức tín dụng, Tòa án tuyên bố tổ chức tín dụng bị phá sản và áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng (thi hành quyết định tuyên bố phá sản tổ chức tín dụng), không áp dụng thủ tục về hội nghị chủ nợ và phục hồi hoạt động kinh doanh đối với tổ chức tín dụng.

- Khi thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng (thi hành quyết định tuyên bố phá sản tổ chức tín dụng), khoản vay đặc biệt của NHNN được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ có tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng.

- Các nội dung khác về phá sản tổ chức tín dụng áp dụng các quy định có liên quan tại Luật phá sản.

e) Điều 57 khoản 1 điểm d

Đề nghị quy định theo hướng: “Người gửi tiền trong trường hợp phá sản tổ chức tín dụng”.

g) Điều 123 khoản 5

Đề nghị quy định rõ các khoản tiền thu được của doanh nghiệp gửi vào tài khoản mở tại ngân hàng sẽ đứng tên ai?

G. Hiệp hội ngân hàng Việt Nam

a)  Đề nghị đặt tên Dự thảo là “Luật Phá sản” bỏ cụm từ sử đổi vì bản chất luật này thay thế cho Luật Phá sản ban hành ngày 15-10-2004

b)  Hiệu lực của Luật Phá sản (Điều 4)

Đề nghị đưa nội dung này vào phần cuối của Dự thảo Luật cho phù hợp với quy tắc, thông lệ quy tắc soạn thảo văn bản.

c) Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền (Điều 6)

Đề nghị sửa đổi cụm từ “Quản tài viên, Chấp hành viên” thành “người có thẩm quyền” cho ngắn gọn

d) Giải thích từ ngữ (Điều 9)

Đề nghị sửa đổi, bổ sung nội dung này như sau:

-      Chuyển nội dung này lên Điều 4

-      Có định nghĩa rõ ràng về các chủ thể được sử dụng trong  Luật: Chấp hành viên, Thư ký của Quản tài viên; người tham gia thủ tục phá sản, người liên đới

-      Bổ sung thêm mục “Người có thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản: đại diện Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, Quản tài viên, Chấp hành viên…” để tránh nhắc lại các cụm từ nhiều lần trong văn bản.

e) Quyền, nghĩa vụ của DN HTX bị yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 19)

Để phù hợp với nội dung của Dự thảo, đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều này thành: “Các quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản quy định tại Điều 17 của Luật này”

f) Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (Điều 24)

       Khoản 3: Nội dung “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sả phải gửi kèm theo văn bản chỉ định Quản tài viên và văn bản đồng ý làm Quản tài viên” không thống nhất với Điều 11 (Thẩm phán có quyền chỉ định Quản tài viên) . Do đó, đề nghị  Dự thảo quy định rõ thẩm quyền chỉ định Quản tài viên: trường hợp nào là do người nộp đơn chỉ định, trường hợp nào do Tòa án chỉ định?

g) Nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 29)

Khoản 2 đề nghị sửa đổi thành “Trong trường hợp DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản mà người đại diện hợp phá của DN, HTX mất tích, bỏ trốn hoặc vắng mặt thì Quản tài viên sẽ là người đại diện hợp pháp của DN, HTX”

h) Ủy thác thu hồi tài sản của DN, HTX bị yêu cầu tuyên bố phá sản (Điều 39)

Khoản 4 đề nghị bổ sung cụm từ: “tiến hành thu hồi tài sản của DN, HTX” vào cuối khoản này để đầy đủ và rõ ràng.

i) Lệ phí phá sản, phí phá sản và tạm ứng phí phá sản (Điều 40)

Đề nghị sửa đổi tiêu đề của điều này thành “Lệ phí, phí và tạm ứng phí yêu cầu mở thủ tục phá sản”

j) Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:

1. Tòa án phải thông báo ngay cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết về các thủ tục nộp lệ phí, tạm ứng phí yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng phí
2. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng phí yêu cầu mở thủ tục phá sản, ghi vào phiếu báo và giao cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giất báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng, người yêu cầu mở thủ tục phá sản phải đến cơ quan thi hành án dân sự nộp tiền tạm ứng theo quy định”

k)  Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản (Điều 47)

Đề nghị bổ sung khoản 1 đoạn “buộc DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc câm cố” vào đoạn cuối cùng của khoản này

l) Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều 48)

Khoản 2 đề nghị bổ sung thêm các căn cứ xác định DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản để đảm bảo áp dụng thống nhất

m) Các hoạt động của DN, HTX bị cấm hoặc hạn chế (Điều 51)

Đề nghị Dự thảo làm rõ nội dung “Chấm dứt thực hiện hợp đồng đó có hiệu lực” quy định tại điểm c khoản 2

Khoản 3: Đề nghị Dự thảo sửa đổi câu “Các giao dịch vi phạm khoản 1 khoản 2 Điều này thì vô hiệu” thành “các giao dịch vi phạm khoản 1 khoản 2 Điều này được coi là vô hiệu”

n)  Khiếu nại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều 52)

Khoản 1 “Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản phải được Tòa án gửi cho người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” không nên quy định ở Điều này để tránh lặp lại và chỉ quy định tập trung tại Điều 49 – Thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

Khoản 3 đề nghị sửa đổi lại nội dung khoản này như sau: “Quyết định trả lời khiếu nại, kháng nghị của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng”

  • o)  Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố (Điều 55)

Đề nghị bổ sung nội dung sau: “Ngay sau khi Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, các tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp, hợp tác xã được xử lý ngay để thanh toán khoản nợ mà các tài sản đó bảo đảm”.

p) Thứ tự phân chia tài sản (Điều 57)

Đề nghị làm rõ nội dung: “Các khoản nợ của các chủ nợ mới sau khi mở thủ tục phá sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

r) Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh (Điều 59)

Đề nghị sửa đổi điểm b khoản 3 như sau: “Trường hợp việc bảo lãnh được thực hiện đúng quy định của pháp luật thì nghĩa vụ về tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo lãnh”.

s) Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản (Điều 60)

Đề nghị sửa đổi lại khoản 1 như sau: “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản, chủ sở hữu những tài sản đã cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý thuê hoặc mượn tài sản…”.

t) Nhận lại hàng hóa đã bán (Điều 62)

Đề nghị sửa lại Điều này như sau: “… nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đã nhận hàng hóa đó và không thể trả lại được thì người bán trở thành chủ nợ không có bảo đảm”.

u) Triệu tập Hội nghị chủ nợ (Điều 80)

Đề nghị sửa đổi khoản 1 như sau: “Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Quản tài viên phải thực hiện xong việc kiểm kê tài sản và lập danh sách chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản…”.

v) Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ (Điều 84)

Đề nghị làm rõ “đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền” được nêu tại khoản 2 Điều này là của bên nào, nếu là của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thì cũng cần phải quy định rõ.

v) Kết luận của Hội nghị chủ nợ (Điều 92)

Việc thụ lý, đình chỉ thực hiện thủ tục phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án, trong trường hợp Hội nghị chủ nợ thống nhất rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải yêu cầu Tòa án ra quyết định. Do đó, đề nghị sửa đổi điểm a khoản 1 Điều này như sau: “Thống nhất đề nghị Tòa án đình chỉ việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”.

w) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại kết luận của Hội  nghị chủ nợ (Điều 94)

Đề nghị sửa đổi quy định tại khoản 3 như sau: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản phải xem xét và ra một trong các quyết định sau: …”.

x) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại kết luận của Hội nghị chủ nợ (Điều 95)

Đề nghị sửa đổi điểm b khoản 2 như sau: “Tên và địa chỉ của bên làm đơn khiếu nại”.

y) Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản (Điều 98)

Đề nghị bổ sung nội dung sau: “Khi đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, các khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố quy định tại Điều 55 Luật này phải được tiếp tục thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm”.

z) Điều 104: Nghĩa vụ về tài sản sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản (Điều 104)

Đề nghị sửa đổi khoản 2 như sau: “Các nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố phá sản được xử lý như sau: …”

aa)   Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản(Điều 131)

Khoản 1: Dự thảo nên quy định cụ thể về thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ “Giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của công, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản”.

Trên đây là bản tổng hợp ý kiến Bộ, ngành về Dự án Luật Phá sản (sửa đổi). Tòa án nhân dân tối cao kính trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

 

Nơi nhận:

- Như trên;

- Ủy ban Kinh tế Quốc hội;

- Ủy ban Pháp luật Quốc hội;

- Ủy ban Tư pháp Quốc hội;

- Ủy ban Tài chính, ngân sách Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chính phủ;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Bộ Tư pháp;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các Thành viên Ban soạn thảo;

- Lưu VT: VP, Viện KHXX (TANDTC).

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TRƯỞNG BAN SOẠN THẢO

(Đã ký)

Trương Hòa Bình 

 

Theo toaan.gov.vn


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 30 Tháng 9 2013 23:03 )  

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

TIÊU ĐIỂM

HÌNH ẢNH CÔNG TY LUẬT HOÀNG MINH

LUẬT HOÀNG MINH

BÀI VIẾT


TRỤ SỞ CÔNG TY

Địa chỉ       : Tầng 5, số 71 Mai Hắc Đế, P. Bùi Thị Xuân, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại : 04.3974 3442 - 04.39743449 - 04.22019779  -  Fax : 04.3974 3449
Hotline      : Ls. Tống Thủy - 098 3399 304 / Ls. Kim Dung - 090 616 3368 (24/24)

Emai          : info@luathoangminh.com  luathoangminh@gmail.com
Website    : http://www.luathoangminh.com  http://www.hoangminhlaw.com

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH

Địa chỉ: P708 D1-CT2 Khu đô thị Tây Nam Linh Đàm, P. Hoàng Liệt, Q. Hoàng Mai, Hà Nội
Hotline: Ls. Tống Văn Thủy – 0983399304. Ls.  Hoàng Kim Dung 0906163368
Emai : info@luathoangminh.com - luathoangminh@gmail.com
Websitehttp://www.luathoangminh.com -  http://www.hoangminhlaw.com

Công ty người mẫu