Home TIN TỨC - SỰ KIỆN Dự thảo Nghị quyết về Luật Trọng Tài Thương Mại

Dự thảo Nghị quyết về Luật Trọng Tài Thương Mại

Email In PDF.

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

___________________

Số: /2012/NQ-HĐTP

 

DỰ THẢO 2.1

Chỉnh lý 07-01-13

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————

Hà Nội, ngày      tháng năm 2012

 

NGHỊ QUYẾT

Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại

——————————

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ vào Luật Tổ chức Toà án nhân dân;

Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Luật Trọng tài thương mại được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 (sau đây gọi tắt là Luật TTTM);

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Chủ tịch Hội luật gia Việt Nam;

QUYẾT NGHỊ:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

      Nghị quyết này hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại về phân định thẩm quyền giữa Trọng tài thương mại và Tòa án; thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Tòa án đối với hoạt động trọng tài; đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.

 

Điều 2. Phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài và Tòa án theo quy định Luật TTTM

1. Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật TTTM nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM.

2. Khi có người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật TTTM thì Toà án yêu cầu người khởi kiện cho biết các bên có thoả thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp hay không. Đồng thời, Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện để xác định vụ tranh chấp đó các bên có thoả thuận trọng tài hay không.

a) Nếu có căn cứ cho thấy vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 3 Nghị quyết này, hoặc thỏa thuận trọng tài thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3, điểm b khoản 5 Điều này thì Toà án căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng dân sự) để trả lại đơn kiện cho người khởi kiện.

b) Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Toà án mới phát hiện được vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, hoặc thỏa thuận trọng tài thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3, điểm b khoản 5 Điều này thì Toà án căn cứ vào quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện cho các bên.

 

3. Đối với tranh chấp mà các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng một bên hoặc các bên tranh chấp khởi kiện tại Tòa án thì tùy theo yêu cầu của nguyên đơn mà Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không yêu cầu Tòa án xem xét, xác định tính hợp pháp (tính có hiệu lực) của thỏa thuận trọng tài thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật TTTM và điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 để trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

b) Trường hợp nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xác định tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài hoặc nguyên đơn vừa yêu cầu Tòa án xác định tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài, vừa yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 12 Điều 25 hoặc khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 136 của Bộ luật dân sự. Trường hợp này Tòa án phải xem xét, xác định tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài trước khi giải quyết nội dung tranh chấp giữa các bên. Nếu xác định thỏa thuận trọng tài giữa các bên là hợp pháp thì Tòa án xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

4. Trường hợp nguyên đơn vừa yêu cầu Tòa án vừa yêu cầu Trọng tài xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài thì Cơ quan thụ lý trước theo thời gian có trách nhiệm xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài.

a) Trường hợp đã có yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều này sau đó một hoặc các bên lại có yêu cầu Trọng tài xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài thì Trọng tài phải từ chối thụ lý cho đến khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

b) Trường hợp đã yêu cầu Trọng tài xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài, sau đó một hoặc các bên lại có yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều này thì Tòa án phải từ chối thụ lý cho đến khi có quyết định của Hội đồng trọng tài về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Sau khi có quyết định của Hội đồng trọng tài mà các bên có khiếu nại thì Tòa án thụ lý, giải quyết theo quy định tại Điều 44 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 11 của Nghị quyết này.

 

5. Trường hợp giữa các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì khi phát sinh tranh chấp một hoặc các bên tranh chấp được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp.

a) Trường hợp một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

b) Trường hợp một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc vừa yêu cầu Trọng tài vừa yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp cùng một thời điểm thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật TTTM để từ chối thụ lý, giải quyết. Trong trường hợp này, khi nhận được đơn yêu cầu của các bên, Tòa án xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

6. Trong các trường hợp tranh chấp sau đây, tuy các bên có thoả thuận trọng tài, nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:

a) Thoả thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết này;

b) Thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết này;

c) Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ tranh chấp, bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp và bị đơn phản đối vì lý do đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh là trước đó các bên đã có thoả thuận trọng tài (trường hợp này được xác định là không có thoả thuận trọng tài);

d) Có bản án, quyết định của Tòa án xác định tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài hoặc không có thỏa thuận trọng tài;

đ) Có quyết định của Toà án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên và các bên không có thoả thuận khác về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài;

e) Có quyết định của trọng tài đình chỉ giải quyết tranh chấp quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 59 Luật TTTM;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

 

Điều 3. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM

1. “Thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc trường hợp quy định tại Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết này.

Thỏa thuận trọng tài được xác định là vô hiệu khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu (vi phạm điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài).

2. “Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác giải quyết tranh chấp;

b) Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

c) Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận, trừ trường hợp điều lệ của Trung tâm trọng tài đó có quy định áp dụng Quy tắc tố tụng trọng tài khác;

d) Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài nhưng khi có tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

 

Điều 4. Không có thỏa thuận trọng tài

Vụ tranh chấp được xác định là “không có thỏa thuận trọng tài” khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ tranh chấp, bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp và bị đơn phản đối vì lý do đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh là trước đó các bên đã có thoả thuận trọng tài;

2. Các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, khi có tranh chấp, các bên không thỏa thuận được về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp và các bên có thỏa thuận yêu cầu Tòa án để giải quyết tranh chấp; (Giải trình)

3. Có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực pháp luật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài;

4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Xác định Toà án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài quy định tại Điều 7 Luật TTTM

1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật TTTM thì các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn một trong các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam để giải quyết vụ việc liên quan đến hoạt động trọng tài. Việc thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ loại việc yêu cầu Tòa án giải quyết, tên Tòa án mà các bên lựa chọn. Khi phát sinh quyền yêu cầu, một hoặc các bên có quyền gửi văn bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và gửi đến Tòa án mà các bên đã lựa chọn trong thời hạn luật định.

a) Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi thỏa thuận lựa chọn Tòa án của các bên là hợp pháp (phù hợp với quy định của pháp luật). Trường hợp thỏa thuận của các bên không hợp pháp thì thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài được xác định theo đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Luật TTTM.

Ví dụ: trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án nhân dân có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài thì thỏa thuận này là trái với quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật TTTM. Trong trường hợp này, việc xác định Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Luật TTTM.

b) Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền đối với trọng tài trước hoặc sau khi có thỏa thuận trọng tài. Các bên cũng có quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền đối với tất cả hoạt động trọng tài hoặc thỏa thuận riêng từng Tòa án có thẩm quyền đối với từng hoạt động trọng tài. Trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền đối với một hoạt động trọng tài hoặc thỏa thuận lựa chọn Tòa án chung chung mà không ghi rõ đó là Tòa án cụ thể nào thì thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài được xác định theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật TTTM và hướng dẫn tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp yêu cầu chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc mà có nhiều bị đơn thì nguyên đơn có quyền lựa chọn yêu cầu một trong các Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó. (Trường hợp có một hoặc các bị đơn cư trú, hoặc có trụ sở ở nước ngoài thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc ở Việt Nam hoặc Tòa án nơi cư trú, hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn)

a) Khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, Toà án phải giải thích cho người nộp đơn biết là chỉ có một Toà án trong các Toà án được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Luật TTTM mới có thẩm quyền giải quyết để họ lựa chọn. Toà án do họ lựa chọn yêu cầu nguyên đơn phải cam kết trong đơn yêu cầu không yêu cầu tại các Toà án khác.

b) Trong trường hợp nguyên đơn nộp đơn yêu cầu tại nhiều Toà án khác nhau, thì Toà án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết. Các Toà án khác, nếu chưa thụ lý, hoặc đã thụ lý thì trả lại đơn yêu cầu; xoá tên vụ việc đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người nộp đơn. Nếu các bên đã nộp tiền tạm ứng lệ phí, thì Toà án trả lại tiền tạm ứng lệ phí cho người đã nộp.

c) Trường hợp nhiều Toà án đều đã ra quyết định chỉ định Trọng tài viên, thì lấy quyết định chỉ định Trọng tài viên của Toà án do nguyên đơn lựa chọn. Trong trường hợp này nguyên đơn vẫn phải chịu lệ phí về yêu cầu Toà án chỉ định Trọng tài viên tại tất cả các Toà án mà nguyên đơn có yêu cầu.

 

3. Trường hợp yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập người làm chứng quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 7 Luật TTTM mà phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp.

 

4. Xác định Thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Phương án 1:

Trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn Trọng tài nước ngoài tiến hành việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo các quy định của Luật TTTM thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với hoạt động của Trọng tài nước ngoài đó. Thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài của Trọng tài nước ngoài và các hoạt động trọng tài của Trọng tài nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Điều 7 Luật TTTM.

 

Phương án 2:

Trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn Trọng tài nước ngoài tiến hành việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo các quy định Luật TTTM thì Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền đối với hoạt động của Trọng tài nước ngoài đó. Trường hợp một hoặc các bên có yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài tại Việt Nam thì các bên thực hiện thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

5. "Nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Luật TTTM là địa điểm giải quyết tranh chấp quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 11 Luật TTTM.

"Nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định”, "Nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài” quy định tại điểm c và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật TTTM là "Nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp” quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 11 Luật TTTM. Nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp phải được ghi trong quyết định, phán quyết trọng tài.

Quy định về tuyên phán quyết Trọng tài, lập phán quyết Trọng tài, ra phán quyết trọng tài, ban hành phán quyết trọng tài quy định tại ….. được hiểu là Trọng tài lập phán quyết trọng tài.

Điều 6. Mất quyền phản đối quy định tại Điều 13 Luật TTTM

1. Trường hợp một bên hoặc cả hai bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật TTTM hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối với Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài những vi phạm đó trong thời hạn do Luật TTTM quy định (trường hợp Luật TTTM không quy định thời hạn thì thời hạn được xác định theo quy tắc tố tụng trọng tài của Hội đồng trọng tài, trường hợp quy tắc này không quy định thì thời hạn này là 30 ngày kể từ ngày biết được vi phạm) thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án đối với những vi phạm đã biết đó. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án không xem xét yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên đối với các vi phạm quy định của Luật TTTM hoặc của thỏa thuận trọng tài.

2. Quy định về mất quyền phản đối tại Điều 13 Luật TTTM và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này không ảnh hưởng đến quyền khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài, quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên. Khi giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài, xem xét hủy phán quyết trọng tài, Toà án chỉ có trách nhiệm xem xét các vi phạm quy định của Luật TTTM hoặc của thỏa thuận trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 của Luật TTTM mà không phụ thuộc vào việc có phản đối hay không có phản đối về các vi phạm đó của các bên.

Tuy nhiên, đối với những vi phạm mà một hoặc các bên đã mất quyền phản đối, thì mặc dù có yêu cầu thì Tòa án cũng không được căn cứ vào các vi phạm đã mất quyền phản đối đó để quyết định chấp nhận yêu cầu của một hoặc các bên, trừ trường hợp một hoặc các bên đưa ra được các căn cứ khác.

 

Chương II

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

Điều 7. Hình thức của thỏa thuận trọng tài quy định tại Điều 16 Luật TTTM

1. Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới một trong các hình thức quy định tại Điều 16 của Luật TTTM. Khi xem xét thỏa thuận trọng tài Tòa án phải căn cứ vào các quy định tương ứng của pháp luật về hình thức thỏa thuận trọng tài đó để xem xét, quyết định thỏa thuận trọng tài có được xác lập hợp pháp hay không.

Ví dụ: thỏa thuận trọng tài được xác lập thông qua giao dịch điện tử thì Tòa án phải căn cứ vào quy định tương ứng của Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành để xác định thỏa thuận trọng tài đó đã được xác lập hợp pháp hay chưa.

2.  Trường hợp có nhiều thỏa thuận trọng tài được xác lập đối với cùng một nội dung tranh chấp thì thỏa thuận trọng tài được xác lập sau cùng theo thời gian có giá trị áp dụng (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).

3. Trường hợp thỏa thuận trọng tài có nội dung không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, hoặc có sự mâu thuẫn giữa ý chí của các bên với ngôn từ trong thỏa thuận trọng tài thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự để giải thích.

4. Khi có sự chuyển giao quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng mà trong giao dịch, hợp đồng đó các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì thỏa thuận trọng tài trong giao dịch, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực đối với bên được chuyển giao, bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao nếu các bên có thỏa thuận về việc chuyển giao thỏa thuận trọng tài đó.

5. Việc gộp hai hoặc nhiều vụ tranh chấp mà Trọng tài đã thụ lý để giải quyết trong cùng một vụ tranh chấp trọng tài được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Hai hoặc nhiều tranh chấp phải cùng có thỏa thuận trọng tài. Các thỏa thuận trọng tài phải có cùng hình thức trọng tài, cùng tổ chức trọng tài.

b) Các bên thỏa thuận đồng ý gộp nhiều thỏa thuận trọng tài vào giải quyết trong cùng một vụ tranh chấp do cùng một Hội đồng trọng tài giải quyết. (Nguyên đơn có yêu cầu và một hoặc các bị đơn không phản đối trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn)

c) Việc gộp nhiều tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ tranh chấp phải bảo đảm việc giải quyết đúng pháp luật.

6. Việc tách vụ tranh chấp có cùng một thỏa thuận Trọng tài thành hai hoặc nhiều vụ tranh chấp được thực hiện khi các bên thỏa thuận đồng ý tách và việc tách để giải quyết các vụ tranh chấp phải bảo đảm việc giải quyết đúng pháp luật.

Điều 8. Thoả thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM

Khi xem xét thoả thuận trọng tài có vô hiệu hay không cần lưu ý một số trường hợp sau đây:

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật TTTM.

2. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật TTTM, về nguyên tắc chung nếu người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết, hoặc tuy có quyền ký kết nhưng ký kết vượt quá thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì thoả thuận trọng tài đó vô hiệu. Tuy nhiên, trong quá trình ký kết, thực hiện thỏa thuận trọng tài mà người có thẩm quyền ký kết đã biết thỏa thuận trọng tài được ký kết mà không phản đối hoặc khi phát sinh tranh chấp mà một bên có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án yêu cầu người có thẩm quyền ký kết thoả thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản có chấp nhận thoả thuận trọng tài do người không có thẩm quyền ký kết trước đó hay không. Nếu họ chấp nhận thì trong trường hợp này thoả thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài theo thủ tục chung.

Trường hợp, người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết nhưng sau đó người có thẩm quyền ký kết biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực và tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. (phán đối vào thời điểm nào)

3. Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật, thì theo quy định của Bộ luật dân sự người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; do đó, để chứng minh người ký thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Toà án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài là trường hợp bị lừa dối, đe dọa quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật TTTM, Điều 4 và Điều 132 của Bộ luật dân sự. Khi một trong các bên cho rằng mình bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và có đơn yêu cầu Tòa án, Trọng tài tuyên bố thoả thuận trọng tài đó vô hiệu thì Tòa án thụ lý, xem xét thỏa thuận trọng tài đó theo quy định tại khoản 3 và 4 Điều 2 Nghị quyết này.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật là thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự.

 

Chương III

THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI

 

Điều 9. Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc quy định tại Điều 41 Luật TTTM

1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, thì Toà án thực hiện việc chỉ định Trọng tài viên khi có yêu cầu trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn mà bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình lựa chọn, nếu nguyên đơn có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

b) Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, khi hết thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bị đơn cuối cùng nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, mà các bị đơn không chọn được Trọng tài viên, nếu một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn.

c) Hết thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định mà các Trọng tài viên này không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài, nếu một hoặc các bên có yêu cầu thì Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài cho các bên.

d) Trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên duy nhất mà đã hết thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bị đơn cuối cùng nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên.

2. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Toà án cấp tỉnh) có thẩm quyền phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên. Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp về việc thụ lý vụ việc và thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán xét đơn yêu cầu phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu chỉ định Trọng tài viên. Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên không phải triệu tập các bên tranh chấp.

4. Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 20, 21 và 28 của Luật TTTM, danh sách Trọng tài viên của các tổ chức trọng tài hoạt động tại Việt Nam và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định. Quyết định chỉ định Trọng tài viên của Tòa án được thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Trung tâm trọng tài hoặc Trọng tài viên Trọng tài vụ việc.

6. Quyết định chỉ định Trọng tài viên của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

 

Điều 10. Thay đổi Trọng tài viên quy định tại Điều 42 Luật TTTM

1. Toà án chỉ thụ lý và giải quyết việc thay đổi Trọng tài viên theo quy định tại khoản 4 Điều 42 Luật TTTM.

2. Người có yêu cầu thay đổi Trọng tài viên phải làm đơn yêu cầu bằng văn bản, trong đó nêu rõ trường hợp và lý do thay đổi Trọng tài viên.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Toà án cấp tỉnh) có thẩm quyền phân công một Thẩm phán thực hiện việc thay đổi Trọng tài viên và thông báo bằng văn bản cho các bên. Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp về việc thụ lý vụ việc và thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc.

4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán xét đơn yêu cầu phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên. Thẩm phán quyết định việc thay đổi Trọng tài viên mà không phải triệu tập các bên tranh chấp.

5. Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán xét đơn yêu cầu căn cứ vào quy định tại Điều 20 và khoản 1 và khoản 6 Điều 42 Luật TTTM, danh sách Trọng tài viên của các tổ chức trọng tài hoạt động tại Việt Nam và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định Trọng tài viên có thuộc trường hợp bị thay đổi hay không. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể đề nghị Trọng tài viên bị yêu cầu thay đổi trình bày ý kiến của họ về yêu cầu thay đổi Trọng tài viên của các bên.

Trường hợp đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên của các bên là có căn cứ, thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà thẩm phán căn cứ vào điểm, khoản tương ứng quy định tại Điều 20 Luật TTTM hoặc điểm tương ứng quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 42 Luật TTTM ra quyết định thay đổi Trọng tài viên. Trường hợp không chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên của các bên, thì Thẩm phán cũng phải ra quyết định bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do của việc không chấp nhận yêu cầu thay đổi. Quyết định thay đổi Trọng tài viên của Tòa án được thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

6. Quyết định thay đổi Trọng tài viên của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Trung tâm trọng tài hoặc Trọng tài viên Trọng tài vụ việc.

 

Điều 11. Xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (Xác định thẩm quyền của Trọng tài) quy định tại khoản 5 Điều 43 Luật TTTM

Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. (Nếu không thỏa thuận được thì tổ chức trọng tài có thẩm quyền là tổ chức theo lựa chọn của nguyên đơn).

Trường hợp các bên tranh chấp cùng khởi kiện tại các Trung tâm trọng tài khác nhau để giải quyết tranh chấp thì Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp các Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của các nguyên đơn cùng một ngày thì Trung tâm trọng tài đầu tiên thông báo đơn khởi kiện của nguyên đơn cho bị đơn có thẩm quyền giải quyết.

 

Điều 12. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về việc không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 44 Luật TTTM

1. Các bên khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về việc không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài phải làm đơn khiếu nại. Đơn khiếu nại phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật TTTM và nộp kèm theo các tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật TTTM.

2. Ngay sau khi nhận được đơn khiếu nại của các bên và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn, Thẩm phán phải thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài biết về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết đơn khiếu nại của các bên.

3. Thẩm phán căn cứ vào đơn khiếu nại, tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn và quy định tại các điều 5, 6, 18 Luật TTTM để xác định khiếu nại về việc không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài là có căn cứ hay không có căn cứ. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể đề nghị Hội đồng trọng tài trình bày ý kiến của họ về khiếu nại của các bên. Hội đồng trọng tài có thể có ý kiến hoặc không có ý kiến...).

4. Trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều 44 Luật TTTM, Thẩm phán phải xem xét, ra quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án được thực hiện theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi ngay cho các bên, Hội đồng trọng tài.

5. Căn cứ vào quy định của pháp luật mà Thẩm phán chấp nhận hoặc không chấp nhận khiếu nại của các bên và cần nêu rõ lý do, tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán xử lý như sau:

a) Trường hợp vụ việc đang được Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp và nếu Tòa án chấp nhận khiếu nại của các bên thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án, Hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 6 Điều 44 Luật TTTM.

b) Trường hợp Hội đồng trọng tài đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc và Tòa án chấp nhận khiếu nại của các bên thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án, Hội đồng trọng tài phải tiếp tục tiến hành tố tụng trọng tài theo quy định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp Tòa án không chấp nhận khiếu nại của các bên, thì việc giải quyết tranh chấp thực hiện theo sự lựa chọn của các bên.

 

Chương IV

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN THU THẬP CHỨNG CỨ, TRIỆU TẬP NGƯỜI LÀM CHỨNG, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI, ĐĂNG KÝ PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI VÀ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

Điều 13. Về yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng quy định tại Điều 46 và Điều 47 Luật TTTM

1. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 5, 6 Điều 46 Luật TTTM nếu Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thu thập được. Văn bản đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ phải có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 5 Điều 46 Luật TTTM, gửi kèm theo văn bản đề nghị là thỏa thuận trọng tài, thông báo thụ lý vụ việc của Hội đồng trọng tài và tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã tiến hành thu thập chứng cứ nhưng vẫn không thể tự mình thu thập được.

2. Trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản, chuyển giao chứng cứ của Tòa án thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 46 Luật TTTM và quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Tòa án chỉ tiến hành triệu tập người làm chứng khi có căn cứ chứng minh người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp. Văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng phải có đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật TTTM, gửi kèm theo văn bản đề nghị là văn bản thỏa thuận trọng tài, thông báo thụ lý vụ việc của Hội đồng trọng tài và tài liệu, chứng cứ chứng minh việc triệu tập hợp lệ mà người làm chứng không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp.

4. Trình tự, thủ tục ra quyết định, triệu tập, thông báo kết quả triệu tập người làm chứng thực hiện theo quy định tại Điều 47 Luật TTTM và quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011.

5. Bên yêu cầu thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng chịu chi phí thu thập chứng cứ, chi phí cho người làm chứng. Trường hợp thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng theo đề nghị của Hội đồng trọng tài, thì chi phí do Hội đồng trọng tài phân bổ.

 

Điều 14. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 53 Luật TTTM

1. Một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi nộp đơn khởi kiện tại Trọng tài (khi thời điểm tố tụng trọng tài đã bắt đầu) mà không phân biệt Hội đồng trọng tài đã được thành lập hay chưa, Hội đồng trọng tài đã giải quyết tranh chấp hay chưa.

 

2. Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật TTTM thì trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, một hoặc các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật TTTM, Bộ luật tố tụng dân.

 

3. Trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy định tại các điều 48, 49, 52, 53 Luật TTTM và Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011.

 

4. Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật TTTM thì Trọng tài và Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của một trong các bên. Do đó, khi một trong các bên yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đề nghị họ cho biết trước hoặc sau khi yêu cầu họ đã yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời hay chưa. Nếu họ chưa yêu cầu Hội đồng trọng tài thì Toà án yêu cầu họ phải cam kết trong đơn yêu cầu không yêu cầu tại các Toà án khác, hoặc Hội đồng trọng tài. Đồng thời Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu để xác định vụ tranh chấp đó các bên đã có yêu cầu Tòa án, Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời hay chưa.

a) Trường hợp có căn cứ cho thấy một trong các bên đã có yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án căn cứ vào quy định tại khoản 5 Điều 52 Luật TTTM để trả lại đơn yêu cầu cho các bên, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các bên không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.

b) Trường hợp sau khi đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án mới phát hiện được vụ tranh chấp đó các bên đã có yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Toà án căn cứ vào quy định tương ứng để ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do mình ban hành, đồng thời, trả lại đơn kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu cho các bên.

 

Điều 15. Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc quy định tại Điều 62 Luật TTTM

1. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ban hành phán quyết trọng tài, mà một bên, hoặc các bên mới có đơn yêu cầu Tòa án đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, thì Tòa án có thẩm quyền không xem xét, giải quyết đơn yêu cầu đó.

2.  Bên yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc phải làm đơn yêu cầu bằng văn bản và gửi cùng các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật TTTM tới Tòa án có thẩm quyền.

3. Khi xem xét đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc, Thẩm phán xét đơn yêu cầu không phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. Trường hợp cần thiết, thẩm phán có thể triệu tập một hoặc các bên tranh chấp để nghe ý kiến của họ về yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc. Thẩm phán xét đơn yêu cầu căn cứ vào quy định của Luật TTTM, các tài liệu kèm theo, kiểm tra tính xác thực của các tài liệu gửi kèm theo đơn để xem xét, quyết định việc đăng ký.

4. Trường hợp xét thấy phán quyết trọng tài vụ việc được ban hành đúng với quy định của pháp luật thì Thẩm phán thực hiện việc đăng ký. Quyết định đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc được thực hiện theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

5. Trường hợp xác định phán quyết trọng tài không có thật, thì Thẩm phán từ chối đăng ký, trả lại đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo và phải thông báo ngay cho bên có yêu cầu biết, đồng thời nêu rõ lý do. Mẫu thông báo đăng ký phán quyết Trọng tài vụ việc được thực hiện theo Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

 

Điều 16. Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quy định tại Điều 68 Luật TTTM

Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài quy định tại Điều 58 và Điều 61 Luật TTTM khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. “Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 8 Nghị quyết này;

 

2. “Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật TTTM” là trường hợp Hội đồng trọng tài đã không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng quy định của Luật TTTM, Quy tắc tố tụng trọng tài, hoặc thỏa thuận của các bên mà Tòa án xét thấy cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án theo quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM.

Ví dụ 1: Trường hợp một hoặc các bên không được thông báo kịp thời và hợp pháp theo quy định của Luật TTTM, Quy tắc tố tụng trọng tài dẫn tới việc không đảm bảo được quyền của một hoặc các bên về việc chỉ định Trọng tài viên, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật TTTM mà không thể khắc phục được là trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài, trái với quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM .

 

3. “Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài” là trường hợp Hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc mà không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của nguyên đơn hoặc các bên ký kết thỏa thuận trọng tài.

Về nguyên tắc, Tòa án chỉ hủy phần quyết định có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mà không hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, trường hợp có thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết không bị huỷ.

Trường hợp không thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì Tòa án hủy phán quyết trọng tài đó.

 

4. “Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; “Có chứng cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;”

Tòa án chỉ xem xét việc xác định chứng cứ giả mạo nếu có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó và chứng cứ đó phải có liên quan đến việc ra phán quyết cóảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết. Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật trọng tài, thỏa thuận của các bên và quy tắc xem xét, đánh giá chứng cứ mà Hội đồng trọng tài áp dụng khi giải quyết vụ việc để xác định chứng cứ giả mạo.

Trong trường hợp nêu trên mặc dù chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo nhưng nếu các bên biết mà không phản đối theo quy định tại Điều 13 Luật TTTM, thì mất quyền phản đối mà không phụ thuộc vào việc chứng cứ đó có giả mạo hay không và Hội đồng trọng tài có sử dụng chứng cứ đó hay không.

 

5. "Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết có nội dung vi phạm những nguyên tắc đã được pháp luật Việt Nam quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Ví dụ 1: phán quyết trọng tài do Hội đồng trọng tài ban hành vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan, vô tư quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật TTTM, thì quyết trọng tài đó được xác định là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Ví dụ 2: phán quyết trọng tại do Hội đồng trọng tài ban hành vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận quy định tại Điều 4 của Bộ luật dân sự.

Điều 17. Tòa án xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài quy định tại Điều 71 Luật TTTM

1. Để tránh sự khiếu nại từ phía các các bên thì khi chỉ định Thẩm phán tham gia Hội đồng xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, Chánh án Toà án không chỉ định Thẩm phán đã ra quyết định việc chỉ định hoặc thay đổi Trọng tài viên.

2. Toà án thụ lý đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên quy định tại Điều 58 Luật TTTM và phán quyết trọng tài của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 61 Luật TTTM.

3. Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn không xét lại nội dung vụ tranh chấp mà cần kiểm tra phán quyết trọng tài có thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM hay không. Nếu xét thấy phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM và Hội đồng trọng tài không khắc phục hoặc không thể khắc phục được theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào khoản tương ứng của khoản 2 Điều 68 Luật TTTM để ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài. Nếu xét thấy phán quyết trọng tài không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định không huỷ phán quyết trọng tài.

4. Theo quy định tại khoản 10 Điều 71 Luật TTTM, thì "Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành"; do đó, khi xét yêu cầu hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn cần phải xem xét, thận trọng, kỹ càng các quyết định của Trọng tài thương mại để có quyết định chính xác. Cần lưu ý là Hội đồng xét đơn yêu cầu không xem xét lại nội dung vụ tranh chấp mà chỉ xem xét đơn, và các tài liệu kèm theo và ý kiến của các bên, Viện kiểm sát cùng cấp để quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài.

5. Khi xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài quy định tại Điều 71 và hướng dẫn tại điều này, Toà án phải ra quyết định mà không phải ra bản án. Quyết định hủy phán quyết trọng tài được thực hiện theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

6.

Phương án 1:

Theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và khoản 10 Điều 71 Luật TTTM thì "Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành". Do đó, quyết định của Tòa án liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành ngay mà không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Phương án 2:

Quyết định của Tòa án liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Theo quy định tại các điều 18, 282, 304 và 311 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì quyết định của Tòa án liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

 

Điều 18. Ban hành các mẫu văn bản tố tụng

Ban hành kèm theo Nghị quyết này các mẫu văn bản tố tụng sau đây:

1. Quyết định chỉ định Trọng tài viên (Mẫu số 01);

2. Quyết định thay đổi Trọng tài viên (Mẫu số 02);

3. Quyết định giải quyết khiếu nại (Mẫu số 03);

4. Quyết định hủy phán quyết trọng tài (Mẫu số 04);

5. Quyết định đăng ký phán quyết trọng tài (Mẫu số 05);

6. Thông báo đăng ký phán quyết trọng tài (Mẫu số 06).

 

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 19. Về hiệu lực thi hành quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật TTTM

1. Trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập trước ngày Luật TTTM có hiệu lực, nhưng sau khi Luật TTTM có hiệu lực mới phát sinh tranh chấp mà các bên không có thỏa thuận trọng tài mới, thì việc xác định có thỏa thuận trọng tài hợp pháp hay không và việc xác định hiệu lực (giá trị pháp lý) của thỏa thuận trọng tài phải căn cứ vào quy định tương ứng của pháp luật tại thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài.

2. Kể từ ngày Luật TTTM có hiệu lực, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên được thực hiện theo đúng quy định Luật TTTM mà không phụ thuộc vào tranh chấp phát sinh trước hoặc sau khi Luật TTTM có hiệu lực, và các bên đã có thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi Luật TTTM có hiệu lực. Trong trường hợp này việc xác định hiệu lực (giá trị pháp lý) của thỏa thuận trọng tài phải căn cứ vào các quy định tương ứng của pháp luật tại thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài theo quy định tại khoản 1 Điều này.

 

Điều 20. Hiệu lực thi hành của Nghị quyết

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày      tháng      năm 2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày     tháng      năm 2013.

2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh về Toà án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

Nơi nhận:

 

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

- Uỷ ban pháp luật của Quốc hội;

- Ban Nội chính TW;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Văn phòng Chính phủ 2 bản (để đăng Công báo);

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Tư pháp;

- Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Các TAND huyện, quận, thị xã,

thành phố thuộc tỉnh;

- Các Thẩm phán và các đơn vị TANDTC;

- Lưu VP, Viện KHXX (TANDTC).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

CHÁNH ÁN

 

 

Trương Hòa Bình


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

TIÊU ĐIỂM

HÌNH ẢNH CÔNG TY LUẬT HOÀNG MINH

LUẬT HOÀNG MINH

BÀI VIẾT


TRỤ SỞ CÔNG TY

Địa chỉ       : Tầng 5, số 71 Mai Hắc Đế, P. Bùi Thị Xuân, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại : 04.3974 3442 - 04.39743449 - 04.22019779  -  Fax : 04.3974 3449
Hotline      : Ls. Tống Thủy - 098 3399 304 / Ls. Kim Dung - 090 616 3368 (24/24)

Emai          : info@luathoangminh.com  luathoangminh@gmail.com
Website    : http://www.luathoangminh.com  http://www.hoangminhlaw.com

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH

Địa chỉ: P708 D1-CT2 Khu đô thị Tây Nam Linh Đàm, P. Hoàng Liệt, Q. Hoàng Mai, Hà Nội
Hotline: Ls. Tống Văn Thủy – 0983399304. Ls.  Hoàng Kim Dung 0906163368
Emai : info@luathoangminh.com - luathoangminh@gmail.com
Websitehttp://www.luathoangminh.com -  http://www.hoangminhlaw.com

Công ty người mẫu