Home TIN TỨC - SỰ KIỆN Đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị

Đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị

Email In PDF.

Đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị

        Trong những năm trở lại đây, vai trò của Hội đồng quản trị – nhân tố quan trọng trong việc tạo ra sự tin cậy trên thị trường đầu tư đã được chú trọng quan tâm hơn. Một cuộc điều tra định tính đối với các nhà quản lý quỹ được thực hiện bởi các nhà tư vấn của McKinsey chỉ ra rằng các nhà quản lý quỹ nên tăng thêm khoảng từ 11 – 16% vốn đầu tư cho những công ty được coi là “có đội ngũ những nhà quản lý tốt”.

         Thông tin này cho thấy tầm quan trọng mà các nhà quản lý quỹ đặt lên Hội đồng quản trị, việc mà Hội đồng quản trị làm và cách quản lý của Hội đồng quản trị. Cách duy nhất để Hội đồng quản trị biết họ thực hiện tốt công việc của mình như thế nào là thực hiện việc đánh giá hoạt động thường xuyên.

          Nguyên nhân nào khiến cho hoạt động của Hội đồng quản trị trở nên rất quan trọng như vậy? Ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vốn kinh doanh của các doanh nghiệp được huy động một phần lớn từ thu nhập thặng dư của rất đông các cổ đông là những người lao động. Trong một số quốc gia khác như Úc, Hoa Kỳ, Nhật Bản vốn đầu tư của các doanh nghiệp còn được huy động từ quỹ lương hưu của hàng triệu công nhân. Đây là nguồn tài trợ cần được đảm bảo chắc chắn nhất vì nó liên quan đến cuộc sống của những người lao động. Do vậy, các tổ chức đầu tư – các doanh nghiệp cần phải đảm bảo chắc chắn rằng quỹ này (vốn đầu tư) sẽ đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư…

        Như thế nào là Hội đồng quản trị hiệu quả? Đây là một câu hỏi nhiều nhà nghiên cứu quản trị đã cố gắng trả lời, tuy nhiên thực tế cho thấy rất khác nhau và dường như không có mô hình lý tưởng mà tùy thuộc vào điều kiện của mỗi doanh nghiệp và bối cảnh mà công ty đó hoạt động. Tuy nhiên các quan sát trên thế giới cho thấy các yếu tố sau sẽ tác động đến hiệu quả của Hội đồng quản trị.

        Qui mô: nếu Hội đồng quản trị cồng kềnh là không tốt và làm giảm hiệu quả hoạt động, ngược lại nếu quá nhỏ không đủ thực hiện các chức năng của Hội đồng quản trị cũng không phải là giải pháp. Một Hội đồng quản trị nhỏ gọn nhất, năng động nhất nhưng đủ thực hiện các chức năng sẽ là mô hình mà CEO kiến nghị.

        Thành phần: ai sẽ là thành viên lý tưởng cho Hội đồng quản trị? ứng cử viên nên là bên trong hay bên ngoài công ty? Nếu bao gồm cả hai thỉ tỷ lệ nên như thế nào? Ngoài việc đảm bảo thành viên Hội đồng quản trị độc lập cần có theo pháp luật về quản trị công ty của một số nước, khảo sát cho thấy số thành viên độc lập thông thường chiếm từ 1/3 đến 2/3 số thành viên Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thường là những người có uy tín, hoặc là một chuyên gia trong lĩnh vực nào đó. Lý tưởng nhất là đa dạng với chuyên môn khác nhau từ đó có thể giúp CEO trên cơ sở kiến thức/kinh nghiệm của họ. Nhiều Hội đồng quản trị được cho là hiệu quả khi bao gồm CEO và một đến vài thành viên độc lập bên ngoài.

        Tuyển chọn thành viên Hội đồng quản trị luôn là một thách thức lớn, đặc biệt là thành viên độc lập bên ngoài công ty. Các ứng cử viên hội đủ uy tín, chuyên môn cao và cam kết thời gian thường không có nhiều. Một số người hội đủ các yếu tố lý tưởng của thành viên độc lập thường bị săn lùng bởi nhiều công ty. Có nhiều quan điểm khách nhau về thành viên độc lập ý tưởng: có công ty cho rằng đó là người thông minh và khả năng cảm nhận kinh doanh, quan niệm khác lại cho rằng thành viên độc lập phải am tường ngành kinh doanh của công ty, hoặc phải dày dặn kinh nghiệm quản lý, giỏi chiến lược…

        Vì thế CEO phải chủ động cùng với Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc tự mình đề xuất với ĐHĐCĐ hình thành và xây dựng một Hội đồng quản trị lý tưởng cho công ty. Đây là một công việc hêt sức thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam nơi các ứng cử viên độc lập lý tưởng cho Hội đồng quản trị là không nhiều. Mặt khác năng lực của CEO cũng hạn chế và hoạt động của Hội đồng quản trị chỉ là hình thức hay mới ở mức sơ khai theo kiểu vừa làm vừa học.

        Những thành viên của Hội đồng quản trị là những người đại diện quản lý các khoản vốn đầu tư có ý nghĩa xã hội lớn, do vậy họ cần phải phát huy được năng lực và hoạt động có hiệu quả để phát triển giá trị của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp. Đó chính là lý do quan trọng đối với việc cần thiết phải đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị.

       Khi quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp nhà đầu tư nhìn vào: Tiềm năng phát triển của doanh nghiệp; Hoạt động quản lý; Chất lượng quản lý. Nếu tiềm năng phát triển đã được đánh giá là rõ ràng, nhà đầu tư sẽ đề nghị xem xét các biên bản họp và báo cáo tài chính. Nếu doanh nghiệp từ chối, nhà đầu tư sẽ kết thúc thảo luận. Nhà đầu tư chỉ cẩn 5 phút xem các biên bản họp và báo cáo tài chính để đưa ra quyết định. Nếu nhà đầu tư lại quan tâm đến quản trị, sẽ sử dụng ảnh hưởng khi bầu Hội đồng quản trị. Hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá cao kinh nghiệm và nguyên tắc làm việc mà nhà đầu tư đem tới hơn là số tiền. Mục tiêu của nhà đầu tư là đưa doanh nghiệp sang một giai đoạn tiếp theo, giai đoạn có thể được niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc bán. Tất nhiên điều này có thể làm cho doanh nghiệp trở thành một công ty tư nhân hiệu quả và lớn hơn. Hội đồng quản trị phải thực hiện sự lựa chọn đó và bước đầu tiên chính là để thực hiện tốt việc quản lý.

        Nếu Hội đồng quản trị không đồng ý với yêu cầu về việc hoàn thiện quản lý, nhà đầu tư sẽ đi nơi khác bởi có rất nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm đầu tư, họ sẽ xem xét, đánh giá những gì nhà đầu tư mang tới trong đó có cả yêu cầu về quản trị công ty.

        Ngoài việc tăng uy tín để thu hút vốn đầu tư, việc đánh giá Hội đồng quản trị sẽ có những lợi ích sau đối với các doanh nghiệp:

­     Xác định những công việc không phù hợp hoặc phương pháp làm việc chưa phù hợp của các thành viên trong Hội đồng quản trị. Đây là phần quan trọng trong việc lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp vì mỗi thành viên Hội đồng quản trị sẽ nhận được thông tin phản hồi độc lập về kỹ năng của họ dưới góc độ thành viên Hội đồng quản trị tham gia điều hành sản xuất kinh doanh.

­     Việc đánh giá Hội đồng quản trị sẽ đưa ra những gợi ý mang tính xây dựng để công việc điều hành và quản trị doanh nghiệp có hiệu quả hơn;

­     Việc đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị sẽ giúp các thành viên tập trung vào tương lai của doanh nghiệp, vì thời gian và vai trò quan trọng nhất của Hội đồng quản trị là xác định chiến lược phát triển của doanh nghiệp chứ không phải là cho việc quản lý điều hành;

­     Đánh giá sẽ làm cho hoạt động của Hội đồng quản trị hiệu quả hơn, doanh nghiệp phát triển tốt hơn, qua đó sẽ thu hút những nhân viên giỏi đến làm việc cho doanh nghiệp, vì ở đó họ sẽ nhiếu sự lựa chọn và cơ hội phát triển hơn đối với nghề nghiệp của họ;

­     Hội đồng quản trị làm việc tốt sẽ gây được chú ý và tạo lòng tin cho các nhà đầu tư và quỹ đầu tư.

­     Giúp nền kinh tế Việt Nam nâng cao được hệ số tín nhiệm quốc gia và giảm rủi ro quốc gia và cũng là phát triển các dịch vụ xã hội.

       Có ý kiến cho rằng 90% Hội đồng quản trị ở các công ty Việt Nam làm việc không có hiệu quả. Thực tế cho thấy, chuyện nâng hiệu quả làm việc của Hội đồng quản trị quả là vô cùng khó khăn nếu Hội đồng quản trị này không chấp nhận việc họ thường xuyên bị quan sát hay đánh giá. Hơn nữa, nếu việc phê bình không được thực thi đều đặn hàng năm, phong cách làm việc không hiệu quả có thể bám rễ sâu hơn vào tư duy, nếp nghĩ của từng thành viên Hội đồng quản trị lúc đó việc thay đổi, cải tổ là không thể.

         Hội đồng quản trị cần phải biết những mặt mạnh, mặt yếu của mình cũng như khả năng thực thi những thay đổi mang tính xây dựng. Theo đó, hoạt động của Hội đồng quản trị và từng thành viên Hội đồng quản trị phải được đánh giá định kỳ và không thiên vị. Việc đánh giá hiệu quả công việc của Hội đồng quản trị phải được tiến hành ít nhất một lần trong một năm. Bên cạnh những lợi ích liệt kê trong phần trên, các công ty và cổ đông sẽ nhận được hàng loạt những lợi thế nếu tiến hành việc đánh gái như vậy ở doanh nghiệp của họ:

­     Có thể kịp thời góp ý cho kế hoạch và phương pháp làm việc của Hội đồng quản trị cũng như mỗi thành viên Hội đồng quản trị;

­     Củng cố niềm tin của cổ đông đối với Hội đồng quản trị;

­     Tăng tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư từ phía các cổ đông: bản thân việc đánh giá đã chứng minh cho quan hệ nghiêm túc giữa các cổ đông với những vấn đề trong việc quản trị công ty;

­     Tạo dựng được hệ thống đào tạo hiệu quả các thành viên Hội đồng quản trị;

­     Xác lập phạm vi cần và đủ đối với việc khen thưởng các thành viên Hội đồng quản trị;

­     Có thể rà soát lại các đánh giá trước sự chứng kiến của Hội đồng quản trị mới được bầu chọn thông qua ĐHĐCĐ.

Trên thực tế, trên thế giới chỉ có chưa đầy 2% các công ty áp dụng việc đánh giá Hội đồng quản trị. Có thể tạm đưa ra mấy nguyên nhân sau:

­     Thứ nhất, rất khó xác định các tiêu chuẩn đánh giá và kết quả đưa ra cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm về những hoạt động khó định lượng như bảo vệ quyền lợi cho cổ đông, giải quyết các mâu thuẫn trong công ty, giám sát hoạt động của bộ máy điều hành và quản trị rủi ro, chủ trì soạn thảo kế hoạch, chiến lược phát triển.

­     Thứ hai, ai sẽ là người đủ thẩm quyền để tiến hành đánh giá Hội đồng quản trị? Có phải là các cổ đông không? Tất nhiên, họ có thể làm việc này bằng cách bầu lại hay miễn nhiệm từng thành viên hoặc thậm chí toàn bộ Hội đồng quản trị. Nhưng đó không phải là cách tốt nhất để hoàn thiện hoạt động của Hội đồng quản trị.

­     Thứ ba, trên thế giới, người ta mới bắt đầu soạn thảo trình tự và hệ thống đánh giá kết quả làm việc của các Hội đồng quản trị. Lần đầu tiên, ý tưởng Hội đồng quản trị tự cho điểm được đưa ra vào năm 1994 trong báo cáo của Hiệp hội quốc gia các giám đốc tập đoàn Mỹ. Ngay sau khi được đưa ra giới thiệu, đề xuất này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư và kinh doanh trên khắp thế giới.Trước tiên, các công ty chỉ tập trung đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị nói chung và một thời gian sau mới chuyển sang đánh giá việc làm của từng thành viên Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, việc chấm điểm từng thành viên Hội đồng quản trị ít được các tập đoàn và công ty lớn áp dụng. Đơn cử ở Mỹ, chỉ có 58% các công ty lớn (với doanh số bán hàng lên đến hơn 10 tỷ USD) và 15% số công ty dạng vừa (có doanh số không thấp hơn 200 triệu USD) tiến hành đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị nói chung và chỉ có 19%  và 8% ở hai nhóm tương ứng trên tiến hành đánh giá hiệu quả làm việc của từng thành viên Hội đồng quản trị.

Đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị cần được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc sau:

­     Tiến hành định kỳ;

­     Mang tính tổng hợp;

­     So sánh với những chỉ số chính trong hoạt động của toàn bộ tập đoàn;

­     Thường xuyên làm rõ các chỉ số và tiêu chuẩn;

­     Đảm bảo tính khách quan bằng cách mời các chuyên viên độc lập tham gia vào quá trình đánh giá.

        Không chỉ đánh giá kết quả những việc Hội đồng quản trị đã làm được mà còn phải đánh giá hướng đi trong tương lai, có nghĩa là đánh giá cả những chiến lược phát triển được Hội đồng quản trị đưa ra, hay những yêu cầu về cơ cấu Hội đồng quản trị.

         Có hàng loạt những yếu tố cần lưu ý tới để quá trình đánh giá đạt được hiệu quả tốt nhất như tính định kỳ trong việc tiến hành đánh giá, ảnh hưởng của Hội đồng quản trị hiện tại tới sự hình thành Hội đồng quản trị mới, mối quan hệ của các thành viên Hội đồng quản trị với văn hóa phê bình.

Trong quá trình lập hệ thống đánh giá Hội đồng quản trị, việc xác định trật tự các bước là rất quan trọng và bao gồm những giai đoạn sau:

­     Xác định các chỉ số đánh giá;

­     Lựa chọn nguồn thông tin;

­     Tập hợp tài liệu về hoạt động của Hội đồng quản trị (Biên bản họp, Báo cáo);

­     Trưng cầu ý kiến của những đối tác có mối liên hệ với Hội đồng quản trị và công ty (Ban điều hành, nhân viên, cổ đông, khách hàng…);

­     Phân tích thông tin thu thập được;

­     Đưa ra đánh giá.

        Việc lựa chọn các chỉ số đánh giá Hội đồng quản trị còn phụ thuộc vào mục đích đánh giá, khả năng (về kỹ thuật, tài chính…) của công ty, thành phần của Hội đồng quản trị và nhiều yếu tố khác. Lý tưởng nhất là các chỉ số đánh giá cần được xác lập trước khi bầu Hội đồng quản trị mới: các thành viên cần phải biết công việc của mình được đánh giá thế nào, kể cả Chủ tịch Hội đồng quản trị.

          Kết quả làm việc của Hội đồng quản trị được thể hiện trước hết qua việc thực hiện những mục tiêu chính của công ty đã được các cổ đông đặt ra (như nâng mức lợi nhuận, tăng thị phần…). Thực tế cho thấy, đôi khi việc đánh giá Hội đồng quản trị thông qua những chỉ số mang tính hình thức (trình độ chuyên môn của các thành viên Hội đồng quản trị, địa vị xã hội, sự có mặt của thành viên Hội đồng quản trị độc lập…) bao giờ cũng cho ra kết quả cao, nhưng mặt khác lại không phản ánh được hoàn toàn tình hình trong công ty.

Có thể tham khảo 3 nhóm chỉ số thường được áp dụng khi tiến hành đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động của Hội đồng quản trị nói chung và từng thành viên nói riêng. Đó là:

Thứ nhất, những chỉ số bắt nguồn từ các mục tiêu và nhiệm vụ chính của Hội đồng quản trị bao gồm:

­     Chất lượng của những tài liệu nội bộ cần thiết được Hội đồng quản trị soạn thảo và xác nhận. Nếu thiếu những tài liệu như vậy hoặc những tài liệu hiện có không phù hợp với quy định của pháp luật, có thể rút ra kết luận: một trong những chức năng chính của Hội đồng quản trị là quản trị chiến lược công ty đã không hoàn thành đầy đủ;

­     Hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông và những người tham gia trong các mối quan hệ của công ty.

­     Tính hiệu quả trong giám soát hoạt động của bộ máy điều hành (phương pháp đánh giá công việc của CEO, tiến hành việc kiểm tra đánh giá đó hàng năm, hình thức tác động đến các Giám đốc/Trưởng phòng chức năng…);

­     Có hệ thống xử lý những tình huống rủi ro (Hội đồng quản trị không thể và không nên tự mình quản lý những tình huống rủi ro đó nhưng vẫn cần phải thiết lập hệ thống đó và soạn thảo chính sách đối phó trong tình huống rủi ro)

Thứ hai, những chỉ số có liên quan đến trình tự làm việc và thành phần Hội đồng quản trị bao gồm:

­     Có kế hoạch hoạt động cho Hội đồng quản trị, phân bổ trách nhiệm giữa các thành viên Hội đồng quản trị;

­     Số lượng và tính định kỳ trong các kỳ họp của Hội đồng quản trị;

­     Có thảo luận những vấn đề quan trọng trong các cuộc họp;

­     Số lượng các vấn đề khó khăn được đưa ra thảo luận ở các cuộc họp Hội đồng quản trị và cách thức dẫn dắt cuộc tranh luận;

­     Có biên bản đầy đủ và chi tiết các cuộc họp Hội đồng quản trị;

­     Có Phụ lục Biên bản ghi lại những ý kiến đặc biệt của các thành viên Hội đồng quản trị;

­     Có sự tham gia tích cực của các thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong một số cuộc họp Hội đồng quản trị;

­     Có sự tham gia tích cực của các thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong một số cuộc họp Hội đồng quản trị;

­     Tuân thủ theo đúng trình tự biểu quyết và đòi hỏi phải đạt được nhất trí tối đa khi quyết định những vấn đề quan trọng;

­     Chất lượng của việc đảm bảo thông tin cho hoạt động của Hội đồng quản trị;

­     Có các ban trực thuộc và tính hiệu quả của các ủy ban đó;

­     Sự phù hợp với cơ cầu Hội đồng quản trị và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị này với đặc điểm riêng biệt của công ty (số thành viên, mức độ thay thế thành viên, ảnh hưởng của việc thay thế đến tính kế tục trong hoạt động của Hội đồng quản trị, số lượng những thành viên Hội đồng quản trị được bầu lại, số lượng thành viên Hội đồng quản trị là thành viên Hội đồng quản trị ở những công ty khác, kiến thức, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên Hội đồng quản trị);

­     Các thành viên Hội đồng quản trị phải được đào tạo đầy đủ về chuyên môn

­     Vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong việc điều hành hoạt động của Hội đồng quản trị, cách thức tương tác giữa Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị.

Thứ ba, những chỉ số miêu tả hoạt động của từng thành viên Hội đồng quản trị bao gồm:

­     Có tham gia vào hoạt động của Hội đồng quản trị;

­     Có mặt tại các kỳ họp của Hội đồng quản trị và các ban của Hội đồng quản trị;

­     Chuẩn bị các câu hỏi để thảo luận tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị;

­     Tích cực thảo luận trong các cuộc họp và bỏ phiếu trong quá trình ra quyết định;

­     Số lần bỏ phiếu tán thành những quyết định mà thực tế sau đó xác nhận là không hiệu quả;

­     Tham gia bảo vệ quyền lợi cổ đông;

­     Tư vấn và giúp đỡ thành viên Hội đồng quản trị, CEO giải quyết khó khăn liên quan đến việc thực hiện kế hoạch chiến lược của công ty;

­     Tính cách cá nhân của thành viên Hội đồng quản trị đó và những ảnh hưởng của nó đến hiệu quả công việc (khả năng làm việc tập thể, dễ tiếp xúc, có thể bảo vệ quan điểm của mình, biết tôn trọng ý kiến người khác, có những chuẩn mực đạo đức trong hành động).

       Cuộc trưng cầu ý kiến của những người có liên quan đến công ty để đánh giá Hội đồng quản trị này được thực hiên trên nền tảng những câu hỏi chuẩn bị sẵn. tất cả các thành viên trong Hội đồng quản trị đều phải trả lời câu hỏi và đánh giá về từng thành viên khác, trừ bản thân mình. Nếu cuộc trưng cầu này có sự tham gia của những người bên ngoài (nhân viên, cổ đông, các công ty có quan hệ với công ty, đại diện các cơ quan chính phủ và xã hội…) thì những câu hỏi chỉ dành cho việc đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị nói chung, chứ không dành cho những cá nhân cụ thể. Với mục đích nâng cao tính khách quan và không thiên vị, việc phân tích các thông tin thu thập được này cần được trao cho những người không phải là thành viên Hội đồng quản trị và có thể mời các chuyên gia độc lập. Trong trường hợp này công ty cần phải cởi mở và hợp tác với những “người ngoài”, điều thường làm các doanh nghiệp e ngại vì lý do bảo mật thông tin.

        Khi công bố đánh giá Hội đồng quản trị, ở đây không nên áp dụng cách đánh giá chung chung “hoàn thành công việc” hay “chưa đạt yêu cầu”. Khi xác định những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể cần xem xét những đặc điểm của công ty (cơ cấu vốn, phong cách làm việc và văn hóa công ty, những quan hệ trong công ty…). Kết quả đánh giá cần được thực hiện với mục đích hoàn thiện công việc của Hội đồng quản trị, nên ở đó phải thể hiện được:

­      Sự đóng góp của mỗi thành viên Hội đồng quản trị vào công việc chung của Hội đồng quản trị;

­     Các lĩnh vực hoạt động của từng thành viên Hội đồng quản trị cần được hoàn thiện;

Trình tự đánh giá Hội đồng quản trị phải được công khai và minh bạch. Tuy nhiên kết quả đánh giá Hội đồng quản trị và từng thành viên Hội đồng quản trị có thể được coi là thông tin mật.

Luật sư Tống Văn Thủy - “Trích CEO & Hội đồng quản trị”

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

TIÊU ĐIỂM

HÌNH ẢNH CÔNG TY LUẬT HOÀNG MINH

LUẬT HOÀNG MINH

BÀI VIẾT


TRỤ SỞ CÔNG TY

Địa chỉ       : Tầng 5, số 71 Mai Hắc Đế, P. Bùi Thị Xuân, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại : 04.3974 3442 - 04.39743449 - 04.22019779  -  Fax : 04.3974 3449
Hotline      : Ls. Tống Thủy - 098 3399 304 / Ls. Kim Dung - 090 616 3368 (24/24)

Emai          : info@luathoangminh.com  luathoangminh@gmail.com
Website    : http://www.luathoangminh.com  http://www.hoangminhlaw.com

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH

Địa chỉ: P708 D1-CT2 Khu đô thị Tây Nam Linh Đàm, P. Hoàng Liệt, Q. Hoàng Mai, Hà Nội
Hotline: Ls. Tống Văn Thủy – 0983399304. Ls.  Hoàng Kim Dung 0906163368
Emai : info@luathoangminh.com - luathoangminh@gmail.com
Websitehttp://www.luathoangminh.com -  http://www.hoangminhlaw.com

Công ty người mẫu