

- Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11;
- Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung qua các văn bản: Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và mới nhất là Luật số 131/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/04/2026;
- Nghị định số 65/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 122/2010/NĐ-CP;
- Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi, bổ sung liên quan;
- Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN quy định chi tiết một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và biện pháp thi hành Nghị định số 65/2023/NĐ-CP liên quan đến thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và bảo đảm thông tin sở hữu công nghiệp;
- Thông tư số 263/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo các Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN, Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN, Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN và Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN;
- Quyết định số 2774/QĐ-BKHCN về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ khoa học và Công nghệ;
- Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Công ước Berne, Thỏa ước Madrid, Nghị định thư Madrid, Hiệp định TRIPS và các cam kết về sở hữu trí tuệ trong CPTPP và EVFTA.

- Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình.
+ Giải pháp kỹ thuật là tập hợp cần và đủ các thông tin về cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật (ứng dụng các quy luật tự nhiên) nhằm giải quyết một nhiệm vụ (một vấn đề) xác định.
- Sáng chế dạng sản phẩm:
Sản phẩm là vật nhân tạo, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của con người, dưới một trong ba dạng sau:
+ Vật thể, ví dụ dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện,... được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật về kết cấu; hoặc
+ Chất (gồm đơn chất, hợp chất và hỗn hợp chất), ví dụ vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm…, được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật về sự hiện diện, tỷ lệ và trạng thái của các phần tử; hoặc
+ Vật liệu sinh học, ví dụ gen, thực vật/ động vật biến đổi gen…, được đặc trưng bởi các thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo;
- Sáng chế dạng quy trình: Quy trình là cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định (ví dụ quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý…), được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác.

® Cơ sở để chứng minh tính độc quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với Sáng chế
- Nhiều chủ thể có thể lợi dụng việc sáng chế chưa được bảo hộ để thực hiện hành vi sao chép, khai thác hoặc sử dụng trái phép, từ đó làm ảnh hưởng đến thành quả nghiên cứu, lợi thế cạnh tranh và uy tín của cá nhân, doanh nghiệp sở hữu sáng chế;
- Vì vậy, việc đăng ký bảo hộ sáng chế giúp chủ sở hữu xác lập quyền độc quyền hợp pháp đối với sáng chế, đồng thời tạo cơ sở để ngăn chặn các hành vi xâm phạm, đạo nhái hoặc khai thác trái phép nhằm mục đích thương mại.
® Cơ sở để khởi tố các hành vi xâm phạm trái phép Sáng chế
- Trong trường hợp Sáng chế bị sử dụng, khai thác hoặc sao chép trái phép mà chưa có sự chấp thuận của chủ sở hữu, đặc biệt nhằm mục đích trục lợi thương mại hoặc đưa các sản phẩm kém chất lượng ra thị trường, chủ sở hữu có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Khi đó, Bằng độc quyền Sáng chế chính là căn cứ pháp lý quan trọng, chứng minh tư cách chủ sở hữu hợp pháp đối với sáng chế và làm cơ sở để thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định pháp luật.
® Tạo dựng vị thế và sự tin tưởng
- Bằng độc quyền sáng chế góp phần hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và khai thác trái phép thành quả nghiên cứu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, doanh nghiệp thương mại hóa sáng chế và khai thác hiệu quả giá trị công nghệ trên thị trường. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp nâng cao vị thế cạnh tranh, khẳng định năng lực đổi mới sáng tạo và tạo dựng lợi thế khác biệt trong hoạt động kinh doanh;
- Đồng thời, việc sở hữu Bằng độc quyền sáng chế còn giúp gia tăng mức độ tin cậy đối với đối tác, khách hàng và nhà đầu tư khi xem xét hợp tác, nhận chuyển giao công nghệ hoặc khai thác thương mại sáng chế.
® Tạo ra nguồn thu nhập mới
- Đăng ký bảo hộ sáng chế không chỉ nhằm bảo vệ giải pháp kỹ thuật trước các hành vi xâm phạm, mà còn mở ra khả năng khai thác giá trị thương mại và tạo ra nguồn doanh thu cho chủ sở hữu. Giá trị kinh tế của sáng chế có thể gia tăng đáng kể tùy thuộc vào tính ứng dụng, khả năng thương mại hóa và nhu cầu của thị trường đối với công nghệ được bảo hộ;
- Sau khi được cấp Bằng độc quyền Sáng chế, chủ sở hữu có quyền độc quyền khai thác, chuyển nhượng hoặc cho phép bên thứ ba sử dụng sáng chế thông qua các hợp đồng li-xăng. Theo đó, các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng sáng chế phải được sự chấp thuận của chủ sở hữu và thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng để được quyền khai thác hoặc nhận chuyển giao công nghệ.
® Huy động vốn và thu hút các nhà đầu tư tiềm năng
- Bằng độc quyền sáng chế không chỉ mang giá trị pháp lý mà còn được xem là một tài sản trí tuệ có khả năng khai thác thương mại và huy động nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp. Chủ sở hữu có thể thực hiện việc chuyển nhượng, góp vốn hoặc khai thác thương mại sáng chế nhằm gia tăng giá trị tài sản và mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, Bằng độc quyền sáng chế còn có thể được sử dụng như một tài sản bảo đảm trong các giao dịch vay vốn hoặc huy động tài chính;
- Đối với các sáng chế có tính ứng dụng cao và tiềm năng thương mại lớn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc được bảo hộ độc quyền còn góp phần gia tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và đối tác chiến lược. Trên thực tế, tính độc quyền và khả năng kiểm soát công nghệ luôn là một trong những yếu tố quan trọng được nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi đánh giá tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.

® Căn cứ khoản 25 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, số 07/2022/QH15 và điểm a khoản 7 Điều 71 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025
- Chủ thể có quyền đăng ký Sáng chế:
+ Tác giả tạo ra Sáng chế bằng công sức và chi phí của riêng mình;
+ Doanh nghiệp/ Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;
+ Doanh nghiệp/ Tổ chức, cá nhân được chuyển giao, thừa kế, kế thừa quyền đăng ký sáng chế của người có quyền đăng ký;
- Quyền đăng ký Sáng chế của nhiều người: Các tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế thì có quyền thỏa thuận việc đăng ký;
- Quyền đăng ký Sáng chế của Nhà nước: Sáng chế được tạo ra do Nhà nước đầu tư hoặc góp vốn đầu tư (kinh phí, cơ sở vật chất - kỹ thuật thì quyền đăng ký hoặc phần quyền đăng ký tương ứng với tỷ lệ góp vốn thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp các chủ đầu tư có thoả thuận khác. Tổ chức, cơ quan nhà nước được giao làm chủ đầu tư đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền đăng ký hoặc phần quyền đăng ký Sáng chế.
Bằng Sáng chế tại Việt Nam sẽ được cấp độc quyền nếu đáp ứng các điều kiện sau:
® Sáng chế phải có tính mới:
- Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên (Điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009). Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
- Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký Sáng chế được nộp trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày công bố:
+ Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký sáng chế;
+ Sáng chế được công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
+ Sáng chế được trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.
- Lưu ý: Điều này cũng được áp dụng đối với các Sáng chế bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, hoặc các loại văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp được cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố (trong trường hợp đơn không được nộp bởi người có quyền hoặc việc công bố không đúng với quy định của pháp luật).
® Sáng chế phải có trình độ sáng tạo
- Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng (Điều 61 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009).
® Sáng chế phải có khả năng áp dụng công nghiệp
- Sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp được định nghĩa là những sáng chế được đưa vào chế tạo và sản xuất các sản phẩm, hoặc áp dụng lặp lại các quy trình của sáng chế có thể tạo ra kết quả ổn định. (Điều 62 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009).

|
Sản phẩm dưới dạng vật thểBao gồm dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện, v.v. Những sản phẩm này được đặc trưng bởi các dấu hiệu kỹ thuật về kết cấu và có chức năng nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của con người. .
|
|
|
Sản phẩm dưới dạng chấtBao gồm đơn chất, hợp chất và hỗn hợp chất), ví dụ vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm…, được thể hiện bằng tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật về sự hiện diện, tỷ lệ và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của con người; hoặc sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học, ví dụ gen, thực vật/động vật biến đổi gen…, được thể hiện bằng tập hợp các thông tin về một sản phẩm chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo.
|
|
|
Quy trình sản xuất hay phương phápLà quy trình sản xuất hay phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý, v.v.) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về trình tự, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được mục đích nhất định.
|
|
|
Sáng chế mậtĐây là những sáng chế mà nội dung của chúng được xác định là bí mật nhà nước, liên quan đến quốc phòng, an ninh hoặc các lĩnh vực nhạy cảm khác. Việc công bố sáng chế này phải tuân theo các quy định pháp luật về bảo vệ bí mật quốc gia.
|
|

® Theo Điều 59, Luật sở hữu trí tuệ, những đối tượng sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa Sáng chế:
- Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
- Cách thức thể hiện thông tin;
- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
- Giống thực vật, giống động vật;
- Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

® Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu dịch vụ và tiến hành tư vấn dịch vụ đăng ký sáng chế:
® Bước 2: Tra cứu khả năng bảo hộ của sáng chế:
- Chủ sở hữu có thể thực hiện tra cứu khả năng bảo hộ của sáng chế qua 2 cổng dữ liệu sau:
+ Google patent: Cơ sở dữ liệu của Google lưu trữ thông tin và ứng dụng bằng sáng chế toàn cầu.
+ IP Lib: Cơ sở dữ liệu sáng chế tại Việt Nam được xây dựng bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP).
+ Tra cứu trên cơ sở dữ liệu của World Intellectual Property Organization (WIPO) để kiểm tra các sáng chế đã được công bố trên phạm vi toàn cầu.
- Tuy nhiên, việc thực hiện tra cứu trên 3 nền tảng trên tương đối phức tạp và tốn nhiều thời gian, nếu không rõ cách tra có thể dẫn tới thông tin sai lệch, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đăng ký sáng chế của mình. Vì vậy, khách hàng có thể gửi tài liệu sáng chế về Luật Hoàng Minh để được tra cứu chuyên sâu, chính xác nhất.
® Bước 3: Ký Hợp đồng và soạn thảo hồ sơ đăng ký Sáng chế
- Quyết định 2774/QĐ-BKHCN quy định Các thành phần hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 100, 101 và Điều 102, Luật Sở hữu trí tuệ, Phần IV Phụ lục I, Nghị định 65/2023/NĐ-CP, khoản 2 và 3 Điều 14, Thông tư 23/2023/TT-BKHCN bao gồm:
+ Tờ khai đăng ký sáng chế (Theo mẫu của Cục Sở hữu trí tuệ ban hành);
+ Bản mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích. Đáp ứng quy định tại điểm 23.6 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN; bao gồm phần mô tả; yêu cầu bảo hộ sáng chế; hình vẽ, sơ đồ (nếu có);
+ Bản tóm tắt sáng chế/giải pháp hữu ích;
+ Bản sao chứng từ nộp phí, lệ phí;
+ Giấy ủy quyền (nếu đơn đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích được nộp thông qua tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp);
+ Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên (nếu đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên) : Bản sao đơn (các đơn) đăng ký sáng chế đầu tiên; Phần xác nhận của cơ quan nhận đơn đối với bản sao đơn (các đơn) đầu tiên; danh mục hàng hoá, dịch vụ thuộc đơn đăng ký sáng chế đầu tiên; giấy chuyển nhượng quyền ưu tiên, nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác;
+ Giấy chuyển nhượng quyền nộp đơn (nếu có);
+ Tài liệu xác nhận quyền đăng ký nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đăng ký của người khác (chứng nhận thừa kế; chứng nhận hoặc thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả chuyển giao đơn đã nộp; hợp đồng giao việc hoặc hợp đồng lao động…);
- Lưu ý yêu cầu chung cho hồ sơ đăng ký Sáng chế:
+ Bản sao tài liệu xin hưởng quyền ưu tiên có xác nhận của cơ quan nơi đơn ưu tiên được nộp (chỉ yêu cầu đối với đơn xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris). Tài liệu này có thể được bổ sung trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày nộp đơn;
+ Đối với các đơn PCT nộp vào quốc gia Việt Nam thì ngoài các tài liệu nêu trên, cần phải cung cấp các tài liệu sau đây: Công bố đơn PCT, Báo cáo Xét nghiệm Sơ bộ Quốc tế (PCT/IPER/409) (nếu có), Thông báo về những thay đổi liên quan tới đơn (PCT/IB/306) (nếu có), Báo cáo Kết quả Tra cứu Quốc tế (PCT/ISA/210)… Đối với trường hợp này, có thể bổ sung bản gốc của Giấy Uỷ Quyền trong thời hạn là 34 tháng tính từ ngày ưu tiên. Các thông tin cần cung cấp: Họ và tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của người nộp đơn; Họ và tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của tác giả sáng chế/giải pháp hữu ích; Tên của sáng chế/giải pháp hữu ích; Số đơn ưu tiên, ngày ưu tiên và nước ưu tiên của đơn (trong trường hợp đơn có xin hưởng quyền ưu tiên); Số đơn quốc tế và số công bố đơn quốc tế (trong trường hợp là đơn PCT nộp vào quốc gia Việt Nam).
® Bước 4: Nộp hồ sơ và theo dõi quá trình đăng ký sáng chế tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam
- Sau khi toàn tất khâu chuẩn bị hồ sơ, chủ sở hữu tiến hành nộp đơn đăng ký Sáng chế tại Cục sở hữu trí tuệ hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba thực hiện.
® Bước 5: Thẩm định hình thức đơn
- Kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không (Ra quyết định chấp nhận đơn hợp lệ/từ chối chấp nhận đơn). Đơn đăng ký sáng chế được Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định hình thức trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tiếp nhận đơn;
+ Trường hợp đơn hợp lệ, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định chấp nhận đơn hợp lệ, trong đó phải nêu rõ tên, địa chỉ của người nộp đơn, tên người được ủy quyền đại diện (nếu có) và các thông tin về đối tượng nêu trong đơn, ngày nộp đơn, số đơn, ngày ưu tiên và gửi cho người nộp đơn. Trường hợp yêu cầu hưởng quyền ưu tiên không được chấp nhận thì đơn vẫn được chấp nhận hợp lệ, trừ trường hợp đơn có thiếu sót khác làm ảnh hưởng đến tính hợp lệ của đơn và quyết định phải nêu rõ lý do không chấp nhận yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
+ Trường hợp đơn không hợp lệ, Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo dự định từ chối chấp nhận đơn trong đó nêu rõ các lý do, thiếu sót khiến cho đơn có thể bị từ chối chấp nhận và ấn định thời hạn 2 tháng để người nộp đơn có ý kiến hoặc sửa chữa thiếu sót. Nếu người nộp đơn không sửa chữa thiếu sót/sửa chữa thiếu sót không đạt yêu cầu/không có ý kiến phản đối/ý kiến phản đối không xác đáng trong thời hạn ấn định Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định từ chối chấp nhận đơn và gửi cho người nộp đơn;
+ Trường hợp người nộp đơn chủ động yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn hoặc phản hồi thông báo của Cục Sở hữu trí tuệ, thời hạn thẩm định hình thức được kéo dài thêm 10 ngày.
® Bước 6: Công bố đơn đăng ký sáng chế trên Công báo của Cục sở hữu trí tuệ
- Đơn đăng ký Sáng chế được công bố trong tháng thứ 19 kể từ ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn, nếu đơn không có ngày ưu tiên;
- Đơn đăng ký Sáng chế có yêu cầu công bố sớm được công bố trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Cục Sở hữu trí tuệ nhận được yêu cầu công bố sớm hoặc kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ, tùy theo ngày nào muộn hơn;
- Đơn đăng ký Sáng chế mật không được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp.
® Bước 7: Thẩm định nội dung đơn
- Thẩm định nội dung sáng chế là bước đánh giá khả năng bảo hộ của các giải pháp kỹ thuật được đề cập đơn dựa trên các điều kiện bảo hộ sáng chế. Đồng thời, quá trình này đánh giá từng điểm một được nêu trong phạm vi yêu cầu bảo hộ;
+ Thời hạn nộp yêu cầu thẩm định nội dung: 02 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký bằng sáng chế, chủ đơn cần nộp yêu cầu thẩm định nội dung. Nếu không nộp trong thời hạn nếu trên, yêu cầu thẩm định được coi là đã rút tại thời điểm kết thúc thời hạn đó;
+ Đây là quá trình đánh giá khả năng được bảo hộ của sáng chế nêu trong đơn dựa theo các điều kiện bảo hộ. Thời gian thẩm định nội dung là 18 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu;
+ Cục Sở hữu trí tuệ xem xét các điều kiện đăng ký sáng chế từ đó đánh giá khả năng cấp văn bằng cho sáng chế mà khách hàng đăng ký. Nếu đơn đăng ký sáng chế đáp ứng đủ điều kiện thì Cục Sở hữu trí tuệ ra Thông báo dự định cấp văn bằng cho sáng chế mà khách hàng đã đăng ký;
+ Nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ nêu trong đơn không đáp ứng điều kiện bảo hộ hoặc thuộc các trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ nêu tại Điều 117 của Luật Sở hữu trí tuệ hoặc đáp ứng điều kiện bảo hộ nhưng đơn còn có thiếu sót, Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo kết quả thẩm định nội dung, trong đó nêu rõ dự định từ chối cấp văn bằng bảo hộ, lý do từ chối hoặc thiếu sót của đơn, có thể hướng dẫn việc sửa đổi phạm vi (khối lượng) bảo hộ và ấn định thời hạn 03 tháng kể từ ngày ra thông báo để người nộp đơn có ý kiến.
® Bước 8: Cấp văn bằng bảo hộ sáng chế
- Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về quyền sở hữu công nghiệp quyết định cấp văn bằng bảo hộ sáng chế với các trường hợp đăng ký sở hữu công nghiệp không thuộc các trường hợp từ chối và người làm đơn hoàn thành lệ phí theo quy định;
- Sau khi cấp, bằng bảo hộ sáng chế sẽ được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp.

1. Quyền tác giả có phải là công cụ hiệu quả để ngăn chặn xâm phạm sở hữu trí tuệ tại Việt Nam không?
- Có. Quyền tác giả là một công cụ pháp lý hiệu quả, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp cần nhanh chóng bảo vệ thiết kế, logo, bao bì hoặc các sản phẩm sáng tạo có nguy cơ bị sao chép, bắt chước trên thị trường;
- So với thủ tục đăng ký nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp, đăng ký quyền tác giả thường có ưu thế về thời gian xử lý nhanh hơn và thủ tục đơn giản hơn. Điều này giúp doanh nghiệp sớm có căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi khi phát hiện hành vi xâm phạm;
- Trong thực tiễn, khi phát sinh dấu hiệu sao chép hoặc sử dụng trái phép tác phẩm, chủ thể quyền có thể sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả và yêu cầu giám định tại cơ quan chuyên môn. Kết luận giám định có thể là căn cứ quan trọng để yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính hoặc dân sự;
- Vì vậy, quyền tác giả không chỉ là cơ chế bảo hộ bổ trợ, mà còn là một công cụ thực thi hữu hiệu trong chiến lược bảo vệ tài sản trí tuệ của doanh nghiệp tại Việt Nam.
2. Quyền tác giả phát sinh từ thời điểm nào?
- Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009, Quyền tác giả được định nghĩa là quyền của tổ chức, các nhân đối với tác phẩm do chính họ sáng tạo ra hoặc sở hữu;
- Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật này, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ mà không cần quan tâm tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký với cơ quan có thẩm quyền;
- Như vậy, ngay khi tác phẩm được sáng tạo, ra đời và tồn tại dưới hình thức có thể nhận biết được thì quyền tác giả cũng đồng thời phát sinh luôn từ thời điểm đó.
3. Công ty, tổ chức có thể là chủ thể của quyền tác giả hay không?
- Cần phân biệt giữa “tác giả” và “chủ sở hữu quyền tác giả”.
+ Theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, tác giả phải là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Vì vậy, công ty hoặc tổ chức không thể được ghi nhận là tác giả của tác phẩm, bởi bản thân pháp nhân không trực tiếp thực hiện hành vi sáng tạo theo nghĩa pháp lý.
+ Tuy nhiên, công ty hoặc tổ chức có thể là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm nếu quyền này phát sinh hoặc được chuyển giao hợp pháp, chẳng hạn thông qua việc giao nhiệm vụ sáng tạo cho nhân viên, ký hợp đồng thuê sáng tạo với cá nhân, hoặc nhận chuyển nhượng quyền tác giả từ tác giả. Quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu; đồng thời, việc đăng ký quyền tác giả là thủ tục ghi nhận thông tin về tác giả, tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả.
+ Trong thực tiễn, đối với các tác phẩm được tạo ra theo hợp đồng thuê sáng tạo hoặc trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp, vấn đề quan trọng không chỉ là ai trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, mà còn là doanh nghiệp có đủ căn cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tác phẩm hay không. Nếu tác giả là nhân viên cũ, cộng tác viên hoặc bên thứ ba đã chấm dứt hợp tác, việc bổ sung chữ ký, xác nhận hoặc hồ sơ chuyển giao sau này có thể gặp nhiều khó khăn.
- Do đó, khi nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam, nếu người nộp đơn không đồng thời là tác giả, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu chứng minh quyền nộp đơn hoặc quyền sở hữu đối với tác phẩm, ví dụ như hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, văn bản giao nhiệm vụ, hợp đồng thuê sáng tạo, văn bản xác nhận của tác giả hoặc giấy ủy quyền tùy từng trường hợp. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả cũng yêu cầu các thông tin về người nộp đơn, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và tài liệu chứng minh quyền nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền từ người khác.
- Vì vậy, để hạn chế rủi ro trong quá trình đăng ký và khai thác quyền tác giả tại Việt Nam, doanh nghiệp nên chủ động thực hiện các bước sau:
+ Lưu trữ đầy đủ thông tin của cá nhân trực tiếp sáng tạo tác phẩm, bao gồm thông tin liên hệ, giấy tờ nhân thân và vai trò sáng tạo cụ thể;
+ Ký trước các tài liệu cần thiết về giao nhiệm vụ, chuyển giao hoặc xác nhận quyền sở hữu ngay tại thời điểm tác phẩm được hình thành;
+ Tiến hành đăng ký quyền tác giả sớm, đặc biệt đối với các tác phẩm có giá trị thương mại hoặc được sử dụng trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
- Việc chuẩn bị hồ sơ pháp lý ngay từ đầu giúp doanh nghiệp thiết lập chuỗi quyền sở hữu rõ ràng, giảm thiểu tranh chấp với nhân sự, nhà thầu sáng tạo hoặc bên thứ ba, đồng thời tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc khai thác, chuyển giao và bảo vệ tác phẩm trong tương lai.
4. Tác phẩm có được đồng tác giả không?
- Có. Nếu hai hoặc nhiều hơn hai tác giả cùng tạo ra một tác phẩm thì tác phẩm đó được coi là đồng tác giả, hoặc được coi là tác phẩm “đồng tác giả”. Khoản 1, Điều 38, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại Điều 19 (quyền nhân thân) và Điều 20 (quyền tài sản) của Luật này đối với tác phẩm đó.
- Đối với tác phẩm hợp tác có sự tham gia của nhiều tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam không quy định rõ ràng về mức độ đóng góp của mỗi tác giả trong việc tạo ra tác phẩm hợp tác. Tuy nhiên, quy định chung là mỗi tác giả đồng sở hữu các quyền nhân thân và quyền tài sản có thể khai thác hoặc sử dụng độc lập các quyền của mình với điều kiện việc sử dụng độc lập đó có thể được tách rời và không làm phương hại đến các phần tác phẩm của các đồng tác giả khác. Vì vậy, để tránh tranh chấp về quyền sử dụng, khai thác tác phẩm đồng tác giả, tốt nhất bạn nên soạn thảo thỏa thuận đồng tác giả chặt chẽ và rõ ràng trước khi cùng nhau tạo ra tác phẩm. Thỏa thuận đồng tác giả nên bao gồm những điều sau đây:
+ Mục tiêu hợp tác;
+ Đóng góp của mỗi tác giả (để xác định tiền bản quyền và hoa hồng sẽ được trả nếu tác phẩm sau đó được xuất bản hoặc bán, cũng như tỷ lệ phần trăm tiền bản quyền và hoa hồng sẽ được chia đều hoặc dựa trên đóng góp của mỗi tác giả);
+ Nguyên tắc về quyền tác giả;
+ Các tình huống dự phòng và chiến lược truyền thông;
+ Phương pháp giải quyết xung đột (thu hồi quyền đồng tác giả (Nếu tác phẩm được tạo ra với sự cộng tác, liệu chúng có còn là tài sản của các tác giả còn lại sau khi một trong số các tác giả rời đi), xung đột lợi ích, v.v..)
5. Hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, tác phẩm thuộc về ai?
- Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, một số quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn, bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
- Đối với quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản, thời hạn bảo hộ được xác định tùy theo từng loại hình tác phẩm. Cụ thể, tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm khuyết danh được bảo hộ trong thời hạn 75 năm kể từ ngày công bố lần đầu. Trường hợp tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình. Đối với các tác phẩm khác, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; nếu có đồng tác giả thì tính đến năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.
- Theo Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ, khi hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản và quyền công bố, tác phẩm thuộc về công chúng. Mọi tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng tác phẩm nhưng vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả.
6. Quyền tác giả có được bảo hộ vô thời hạn hay không?
- Quyền tác giả được bảo hộ theo hai nhóm: bảo hộ vô thời hạn và bảo hộ có thời hạn;
- Các quyền nhân thân như đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm được bảo hộ vô thời hạn;
- Các quyền như công bố tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, nhập khẩu, truyền đạt tác phẩm đến công chúng và cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính được bảo hộ trong thời hạn luật định;
- Thông thường, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm khuyết danh, thời hạn bảo hộ là 50 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Khi hết thời hạn bảo hộ, tác phẩm thuộc về công chúng; tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng nhưng vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả.
(Cơ sở pháp lý: Điều 19, Điều 20, Điều 27 và Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung.)
Liên hệ tư vấn Đăng ký Bản quyền tác giả của Luật Hoàng Minh

- Là đơn vị tư vấn pháp lý chuyên sâu trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, Luật Hoàng Minh cung cấp dịch vụ đăng ký Bản quyền tác giả theo định hướng chuẩn xác, hiệu quả và có tính bảo hộ dài hạn, nhằm giúp cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp xác lập cơ sở pháp lý vững chắc đối với các tác phẩm do mình sáng tạo, đầu tư hoặc sở hữu hợp pháp.
- Chúng tôi đồng hành xuyên suốt trong toàn bộ quá trình đăng ký, từ việc xác định loại hình tác phẩm, tư vấn điều kiện bảo hộ, rà soát tư cách tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, chuẩn bị hồ sơ, nộp đơn, theo dõi tiến trình xử lý đến đại diện làm việc và phúc đáp với Cục Bản quyền tác giả khi cần thiết.
- Không chỉ dừng lại ở thủ tục đăng ký, Luật Hoàng Minh còn tư vấn chiến lược quản trị và khai thác quyền tác giả, bao gồm chuyển giao quyền, cấp phép sử dụng, xử lý tranh chấp, bảo vệ tác phẩm trước hành vi sao chép, sử dụng trái phép và hỗ trợ định hướng bảo hộ quyền tác giả trong các giao dịch thương mại, truyền thông, công nghệ và sáng tạo nội dung.
- Với đội ngũ luật sư và chuyên gia Sở hữu trí tuệ giàu kinh nghiệm, Luật Hoàng Minh cam kết mang đến giải pháp đăng ký Bản quyền tác giả uy tín, tinh gọn, chuẩn xác và phù hợp với giá trị sáng tạo của Khách hàng — từ tác phẩm văn học, mỹ thuật, âm nhạc, phần mềm máy tính, thiết kế đồ họa, nội dung số đến các tài sản sáng tạo có giá trị thương mại cao.





