Chào mừng Quý Khách đến với Công ty luật Hoàng Minh

Luật đầu tư thể hiện các quan điểm chỉ đạo nào của Đảng và Nhà nước Việt Nam?

Trả lời:

Luật đầu tư thể hiện các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau đây của Đảng và Nhà nước Việt Nam:

- Tiếp tục thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới và chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm giải phóng, huy động tối đa mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Hoạt động đầu tư công từ ngân sách nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, thì thuộc phạm vi điều chỉnh của luật nào?

Trả lời:

Đúng là hiện nay nguồn vốn cho hoạt động đầu tư công từ ngân sách nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội với nhiều dự án lớn trong xây dựng kết cấu hạ tầng và rất cần được quản lý để tránh đầu tư dàm trải, thất thoát, kém hiệu quả.

Lý do ban hành Luật đầu tư là gì?

Trả lời:

Thực hiện công cuộc đổi mới, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước... tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu hội nhập; tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhờ hiệu quả của hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư đã ban hành, việc huy động nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tăng.

Trước Luật đầu tư được Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, hoạt động đầu tư ở Việt Nam được điều chỉnh bằng các luật nào? Có phải Luật đầu tư chỉ đơn thuần là sự hợp nhất Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài

Trả lời:

 

Trước Luật Đầu tư được Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, hoạt động đầu tư ở Việt Nam được điều chỉnh tại 4 đạo luật cơ bản: Luật doanh nghiệp (1999), Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra trong các luật chuyên ngành, khi đề cập đến hợp tác đầu tư nước ngoài cũng có các quy định riêng ngoại lệ áp dụng cho đầu tư nước ngoài thể hiện chính sách đầu tư từ góc độ lĩnh vực cụ thể như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Dầu khí, Luật Viễn thông...

Tại sao Luật đầu tư điều chỉnh hoạt động đầu tư gián tiếp?

Trả lời:

Luật Đầu tư điều chỉnh cả hoạt động đầu tư gián tiếp bởi lẽ đầu tư gián tiếp về bản chất cũng là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi nhuận. Việc quy định về đầu tư gián tiếp trong Luật này nhằm tạo cơ sở pháp lý để tăng cường huy động và sử dụng các nguồn vốn cho phát triển kinh tế, trong đó đầu tư gián tiếp là nguồn vốn quan trọng và đang có xu hướng gia tăng, cần được khuyến khích nhằm tạo kênh thu hút nguồn đầu tư mới.

Đề nghị làm rõ thêm những điểm mới cơ bản của Luật đầu tư?

Trả lời:

Điểm mới của Luật đầu tư bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Quyền tự do đầu tư mở rộng. Nhà đầu tư được đầu tư trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế trừ những lĩnh vực cấm và hạn chế. Lĩnh vực hạn chế đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài được bảo đảm phù hợp với cam kết quốc tế. Và các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty không được quyền ban hành các điều cấm và hạn chế đầu tư.

Luật Đầu tư áp dụng cho những đối tượng nào?

Trả lời:

Luật Đầu tư áo dụng cho những tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam ra nước ngoài, bao gồm:

Sự khác biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp là gì?

Trả lời:

Về hình thức, nhà đầu tư có thể thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Trong đối tượng áp dụng, Luật đầu tư có quy định cả loại đối tượng là tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư. Vậy tổ chức, cá nhân nào được coi có liên quan đến hoạt động đầu tư?

Trả lời:

Tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư là tổ chức, cá nhân cùng bỏ vốn đầu tư hoặc đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư còn là các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước trực tiếp hay gián tiếp quản lý nhà nước về đầu tư.

Việc mở cửa thị trường sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã được thể hiện như thế nào trong Luật đầu tư?

Trả lời:

Điểm mới rất quan trọng là Luật đã cam kết mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời khẳng định việc loại bỏ các rào cản đầu tư liên quan đến thương mại, cụ thể là không bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

Trong tình hình Việt Nam gia nhập WTO, trong quy định của Luật Đầu tư thì đã thực sự không còn phân biệt trong đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước chưa hay là vẫn còn khác? Nếu còn thì tại sao?

Trả lời:

Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện chế độ đối xử quốc gia (NT), và chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN). Theo quy định về NT thì doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài sẽ nhận được sự đối xử không kém thuận lợi hơn doanh nghiệp và nhà đầu tư Việt Nam. Luật doanh nghiệp (2005) và Luật Đầu tư đã đáp ứng được yêu cầu đó vì hai luật đó đã tạo được một mặt bằng pháp lý và điều kiện đầu tư chung cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng, cũng như nhiều nước khác và hoàn toàn phù hợp với quy định và lộ trình của WTO, nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài vẫn phải thực hiện theo một số quy định riêng thậm chí là khó khăn hơn trong việc gia nhập thị trường cũng như đáp ứng một số quy định đặc thù về thủ tục. Có những lĩnh vực, ngành, nghề và địa bàn các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài không được làm hoặc chưa được làm một cách hạn chế...

Với việc gia nhập WTO các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cường đầu tư vào thị trường Việt Nam. Vậy, luật Đầu tư tạo ra những thuận lợi gì hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài?

Trả lời:

Việt Nam gia nhập WTO đem lại không ít thuận lợi cho nhà ĐTNN. Cái lớn nhất hiện nay có thể cảm nhận được là sự tác động của Việt Nam gia nhập WTO đối với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đầu tư của Việt Nam.

Quy định về bảo đảm đầu tư trong Luật Đầu tư có gì mới so với pháp luật về bảo đảm đầu tư trước đây?

Trả lời:

So với pháp luật về bảo đảm đầu tư trước đây, Luật đầu tư quy định cụ thể hơn các nguyên tắc và nội dung bảo đảm đầu tư của Nhà nước. Đó là: Việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được quyền chuyển ra nước ngoài; Khẳng định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước kiểm soát.

Việc xử lý tranh chấp được quy định như thế nào trong Luật Đầu tư?

Trả lời:

Điều 12 Luật Đầu tư quy định rõ các tranh chấp giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau thì xử lý tại tòa án, trọng tài Việt Nam và theo pháp luật Việt Nam; các tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam có thể được xử lý tại trọng tài, tòa án ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài; các tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các cơ quan nhà nước Việt Nam sẽ được xử lý tại trọng tài, tòa án ở Việt Nam theo luật pháp của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Luật Đầu tư cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh của công dân tại Điều 57 của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 như thế nào?

Trả lời:

Điều 57 của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật. Những nội dung cụ thể hóa quyền tự do này trong Luật Đầu tư, bao gồm:

Hỏi đáp