Chào mừng Quý Khách đến với Công ty luật Hoàng Minh

Nhà đầu tư được quyền yêu cầu cung cấp những thông tin từ phía cơ quan quản lý nhà nước?

Trả lời:

Nhà đầu tư có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh cung cấp thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp đã và đang tồn tại. Cơ quan đăng ký kinh doanh có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh cho các nhà đầu tư. Đồng thời nhà đầu tư có quyền tiếp cận các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư; các dữ liệu của nền kinh tế quốc dân, của từng khu vực kinh tế và các thông tin kinh tế - xã hội khác có liên quan đến hoạt động đầu tư; góp ý kiến về các dự án thảo luận, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư.

Luật Đầu tư quy định các nhà đầu tư được bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng đất đai. Vậy căn cứ để nhà đầu tư được nhà nước giao đất, cho thuê đất là gì?

Trả lời:

 

Điều 30 của Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (2003) quy định căn cứ để giao đất, cho thuê đất bao gồm:

Nhà đầu tư có những nghĩa vụ gì?

Trả lời:

Điều 20 Luật Đầu tư quy định nhà đầu tư có 7 nghĩa vụ với nội dung cụ thể và các nghĩa vụ khác do pháp luật quy định. Ngoài các nghĩa vụ về tài chính, về kế toán, kiểm toán và thống kê, về bảo hiểm, lao động, về bảo vệ môi trường, hai nghĩa vụ rất quan trọng mà Luật Đầu tư quy định là phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung đăng ký đầu tư, hồ sơ dự án đầu tư và tính hợp pháp của các văn bản xác nhận và phải tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập, tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

Pháp luật quy định thế nào về nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thể để thực hiện dự án đầu tư?

Trả lời:

Theo quy định tại Mục II, Thông tư 01/2005/TT-BTNMT ban hành ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và môi trường, trường hợp mục đích sử dụng đất của dự án khác với mục đích sử dụng đất của thửa đất mà việc sử dụng đất để thực hiện dự án phù hợp với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã xét duyệt thì trình tự giải quyết được thực hiện như sau:

Hiểu thế nào về quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ của nhà đầu tư?

Trả lời:
Nhà đầu tư được mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tại các ngân hàng của Việt Nam hoặc tại ngân hàng liên doanh hoặc tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt tại Việt Nam. Trong trường hợp được Ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhà đầu tư được phép mở tài khoản vốn vay tại ngân hàng ở nước ngoài.

Nhà đầu tư nước ngoài có phải nộp thuế đối với khoản lợi nhuận chuyển ra nước ngoài không? Nếu giữ khoản lợi nhuận này lại (lợi nhuận sau thuế) và chi tiêu tại Việt Nam thì có cần phải quyết toán với cơ quan thuế không?

Trả lời:

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01/01/2004, quy định các khoản thu nhập hợp pháp mà các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài nhận khi chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc giữ lại ở Việt Nam không phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (kể cả khoản lợi nhuận phát sinh trước ngày 31/12/2003)

Có gì mới không về hình thức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư?

Trả lời:

Luật Đầu tư quy định các hình thức đầu tư áp dụng chung cho các thành phần kinh tế, cụ thể các nhà đầu tư có thể đầu tư dưới các hình thức đầu tư trực tiếp như: đầu tư 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT) và xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO) và xây dựng-chuyển giao (BT); đầu tư phát triển kinh doanh; góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại. Ngoài ra, Luật cũng quy định cả các hình thức đầu tư gián tiếp như: mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Thực ra, các hình thức đầu tư trên đã được quy định ở Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và các pháp luật liên quan khác. Luật Đầu tư đã kế thừa, cụ thể hóa và mở rộng các hình thức đầu tư đó.

 

Luật sư Đỗ Thị Lan Hương

Có gì khác biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài về quyền đầu tư thành lập tổ chức kinh tế?

Trả lời:

Điều 22 Luật Đầu tư quy định cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đều được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:

- Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính theo quy định của pháp luật;

- Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;

- Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Riêng nhà đầu tư trong nước được thêm quyền đầu tư thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật Hợp tác xã và hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật.

 

Luật sư Hoàng Kim Dung

Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được quy định như thế nào?

Trả lời:

Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về quyền của nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam?

Trả lời:

Theo Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư nước ngoài) được mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nhà đầu tư nước ngoài có được thành lập doanh nghiệp mà không cần có dự án đầu tư hay không?

Trả lời:

Luật Đầu tư quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư  vào Việt Nam phải có dự án đầu tư. Trường hợp đã thành lập tổ chức kinh tế mà có nhu cầu thực hiện dự án đầu tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức kinh tế mới. Đây là một quy định rất thông thoáng so với khung pháp lý trước đây. Riêng đối với đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không nhất thiết phải có dự án. Đây là điểm khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Điểm khác biệt này là cần thiết do yêu cầu quản lý nhà nước đối với các luồng vốn từ nước ngoài vào Việt Nam.

 

Luật sư Hoàng Kim Dung

Có phải nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập tổ chức kinh tế dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn như pháp luật trước đây quy định hay không?

Trả lời:

Không đúng. Khác với Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây, Luật đầu tư cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư của mình, hoặc tổ chức kinh tế liên doanh, để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân hoặc các hình thức khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

 

Luật sư Tống Văn Thủy

Đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh, các Bên hợp danh phải tổ chức quản lý và điều hành theo hình thức nào trong điều kiện không thành lập pháp nhân?

Trả lời:

Trong quá trình kinh doanh, các bên hợp danh có thể thỏa thuận thành lập Ban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban điều phối không phải là cơ quan lãnh đạo của các bên hợp danh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban điều phối do các bên hợp doanh thỏa thuận.

Các đơn vị sự nghiệp có thu như viện nghiên cứu, trường học, bệnh viện hoặc các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích có được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hay không? Nếu có, tổ chức đó có thể thành lập được bao nhiêu tổ chức kinh tế ?

Trả lời:

Đơn vị sự nghiệp có thu có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nếu cơ quan này được thành lập theo quy định của pháp luật và trong Điều lệ hoặc quy chế hoạt động của pháp nhân có chức năng kinh doanh.

Đề nghị cho biết thủ tục để nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 5 Luật Đầu tư, hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong Luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó. Hoạt động đầu tư kinh doanh bảo hiểm là một hoạt động đầu tư đặc thù.

Hỏi đáp