Năm 2010 toàn thể gia đình tôi đồng ý ra phường để ký ủy quyền cho ông chú tôi được đứng tên mua nhà tập thể theo Nghị định 61 của nhà nước. Nay chúng tôi có xích mích với ông chú đó. Chúng tôi có đòi lại được nhà hay không. Thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì nếu các bên xác lập sự đại diện theo ủy quyền thì phải thông qua hợp đồng ủy quyền. Theo Điều 581, Bộ luật Dân sự năm 2005 thì, “ Hợp đồn ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.”
Thực hiện nghĩa vụ quân sự
Hiện nay tôi ở cùng ba mẹ đều đã về hưu ( cả 2 người đều nhận lương hưu ở phường). Tôi đang làm cho một công ty liên doanh. Trong quá trình học đại học tôi đã vay ngân hàng theo hình thức hỗ trợ của nhà nước, tổng cộng là 24 triệu, thời hạn trả là năm 2011, hàng tháng tôi vẫn phải trả lãi là 120.000đồng. Vừa qua công ty cử tôi đi đào tạo ở nước ngoài và phải ký cam kết sẽ làm việc cho công ty 02 năm ( nếu vi phạm hợp đồng sẽ phải đền bù với mức 5000$). Vừa qua tôi được địa phương gửi giấy báo đi khám nghĩa vụ quân sự ( tôi đã gửi hợp đồng lao động cho phường). Vậy trong trường hợp này tôi có phải đi nghĩa vụ quân sự không? Công ty tôi làm việc của người nước ngoài nên không có hội đồng quân sự, nếu trúng tuyển thì nhà nước có hỗ trợ cho tôi trả những khoản mà tôi đã vay để tôi có thể an tâm lên đường thực hiện nghĩa vụ không. Vì hiện tại ba mẹ tôi hoàn toàn không có khả năng trả những khoản nợ đó. Khi tôi hoàn thành nghĩa vụ quân sự về thì tôi có được bố trí công việc lại không?
Trường hợp chuyển nhầm tiền trong ngân hàng
A đã đăng ký mở tài khoản tại ngân hàng, A nạp tiền vào tài khoản của chính họ đồng thời đăng ký dịch vụ SMS banking tại ngân hàng. Số điện thoại của A điền trong bảng đăng ký đúng là số của họ, nhưng nhân viên ngân hàng nhập sai thành số của người khá là B. Một tuần sau A ra ngân hàng rút tiền thì mới phát hiện ra sự nhầm lẫn này và số tiền trong tài khoản của A đã bị mất đi 1 khoản tiền ( khoảng hơn 20 triệu). Sau đó ngân hàng kiểm tra lịch sẻ giao dịch thấy số điện thoại nhầm kia đã dùng lệnh chuyển khoản qua SMS sang tài khoản của C là chồng (vợ) của B rồi rút tiền ra. Nêm ngân hàng đã liên lạc với B là chủ của số điện thoại mà ngân hàng đã nhầm với số của chính chủ (A) để làm việc. Tình tiết ở đây là khi làm việc với B, ngân hàng nói là B đã phạm pháp vì họ chỉ nhầm sang số của người B thôi còn tài khoản thì không phải của B mà là của A nên việc B nhắn tin chuyển tiền sang tài khoản khác rồi rút tiền là hành vi ăn cắp tiền của A. B thì giải thích với ngân hàng là họ đã bị mất điện thoại từ trước đó và không hề biết ai là người nhắn tin chuyển tiền. B chỉ công nhận là trong tài khoản của chồng (vợ) của họ ( là C) có tiền chuyển về và đã rút tiền rồi tiêu tiền thôi. Và trả lại 5 triệu cho ngân hàng còn số tiền còn lại sẽ trả dần hàng tháng?
- A có được bồi thường lại số tiền bị mất kia không? Ai là người phải bồi thường: Ngân hàng hay B?
- Ngân hàng nói B đã ăn cắp tiền từ tài khoản của A có đúng không? B có phải chịu trách nhiệm hình sự gì trong chuyện này không?
- C trong việc này có liên quan gì không? Có phải chịu trách nhiệm như B không?
Trả lời:
Về trường hợp hỏi trên thì được giải đáp:
Trả lại tiền đặt cọc khi bán thanh lý
Cơ quan tôi có bán thanh lý tài sản, người mua đến đặt cọc sau đó không đấu giá hoặc trả giá thấp hơn giá khởi điểm. Vậy người đó có được hoàn trả tiền đặt cọc không?
Luật Sư Nguyễn Trọng Quyết Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “ Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về nhận đặt cọc. Nếu bên nhận đặt cọ từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc.
Trường hợp thanh lý tài sản người mua đến đặt cọc sau đó không đấu giá hoặc không trả giá thấp hơn giá khởi điểm mà trong hợp đồng đặt cọc quy định rất rõ ràng và người mua vi phạm dẫn đến việc không giao kết được hợp đồng dân sự thì bên nhận đặt cọc sẽ không phải hoàn trả lại tài sản đặt cọc và bồi thường khoản tiền tương đương.
Trả lại tiền đặt cọc khi bán thanh lý
Cơ quan tôi có bán thanh lý tài sản, người mua đến đặt cọc sau đó không đấu giá hoặc trả giá thấp hơn giá khởi điểm. Vậy người đó có được hoàn trả tiền đặt cọc không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “ Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Quyền tài sản của người thôi quốc tịch
Câu hỏi:
Tôi là công dân Việt Nam hiện đang sinh sống cùng chồng ( quốc tịch Đài Loan) tại Đài Loan. Nay tôi đang làm thủ tục xin thôi quốc tịch Việt nam để nhập quốc tịch Đài Loan. Xin hỏi sau khi thôi quốc tịch Việt Nam thì những tài sản trước đây của tôi ở Việt Nam ( bao gồm cổ phiếu, đất đai…) có còn thuộc sở hữu của tôi không?
Tôi muốn hỏi quy định của pháp luật dành cho những người mang tài sản đi cầm cố ở các hiệu cầm đồ là gì?
Trả lời:
Theo Điều 326 – Bộ luật Dân sự 2005 có quy định: “ Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia ( sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”
Đồng thời, Điều 330,331 quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố như sau:
Xử lý tài sản thế chấp của bên thứ 3
Các bước xử lý tài sản thế chấp của bên thứ 3 khi chủ dự án vay vốn bỏ trốn khỏi địa phương và dự án vay vốn đã chuyển sang nợ quá hạn?
Trả lời:
Phần I Mục A Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN/BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23-04-2001 và Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người vay vốn không trả nợ đúng cam kết thì người bảo lãnh phải trả nợ thay.
Xử lý tài sản thế chấp của bên thứ 3
Các bước xử lý tài sản thế chấp của bên thứ 3 khi chủ dự án vay vốn bỏ trốn khỏi địa phương và dự án vay vốn đã chuyển sang nợ quá hạn?
Trả lời:
Phần I Mục A Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN/BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23-04-2001 và Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người vay vốn không trả nợ đúng cam kết thì người bảo lãnh phải trả nợ thay.
Việc ủy quyền giải quyết tranh chấp
Câu hỏi: Việc ủy quyền giải quyết tranh chấp
Chúng tôi đang gặp phải vấn đề sau: Chị A đã ly hôn với anh B có trích lục của Tòa án có hiệu lực, được chia diện tích đất canh tác là 533m2. Vừa qua doanh nghiệp đền bù chị A đã nhận tiền đền bù là 35 triệu đồng. Hiện nay chị đi lấy chồng khác, chồng chị làm đơn đề nghị được mang tên trong diện tích đất đang canh tác, UBND xã làm thủ tục hòa giải nhưng chị A có giấy ủy quyền cho chồng đứng ra để làm việc với UBND xã, trong khi đó chị vẫn hoàn toàn bình thường, tỉnh táo. UBND xã không chấp nhận giấy ủy quyền đó và không làm việc. Làm như vậy là đúng hay sai?
Chấm dứt ủy quyền mua nhà
Năm 2010 toàn thể gia đình tôi đồng ý ra phường để ký ủy quyền cho ông chú tôi được đứng tên mua nhà tập thể theo Nghị định 61 của nhà nước. Nay chúng tôi có xích mích với ông chú đó. Chúng tôi có đòi lại được nhà hay không. Thủ tục như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì nếu các bên xác lập sự đại diện theo ủy quyền thì phải thông qua hợp đồng ủy quyền. Theo Điều 581, Bộ luật Dân sự năm 2005 thì, “ Hợp đồn ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.”
Quy định cho người đi cầm đồ
Tôi muốn hỏi quy định của pháp luật dành cho những người mang tài sản đi cầm cố ở các hiệu cầm đồ là gì?
Trả lời:
Theo Điều 326 – Bộ luật Dân sự 2005 có quy định: “ Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia ( sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự”
Đồng thời, Điều 330,331 quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố như sau:
Bên cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
Việc ủy quyền giải quyết tranh chấp
Chúng tôi đang gặp phải vấn đề sau: Chị A đã ly hôn với anh B có trích lục của Tòa án có hiệu lực, được chia diện tích đất canh tác là 533m2. Vừa qua doanh nghiệp đền bù chị A đã nhận tiền đền bù là 35 triệu đồng. Hiện nay chị đi lấy chồng khác, chồng chị làm đơn đề nghị được mang tên trong diện tích đất đang canh tác, UBND xã làm thủ tục hòa giải nhưng chị A có giấy ủy quyền cho chồng đứng ra để làm việc với UBND xã, trong khi đó chị vẫn hoàn toàn bình thường, tỉnh táo. UBND xã không chấp nhận giấy ủy quyền đó và không làm việc. Làm như vậy là đúng hay sai?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, Điều 139, Bộ luật Dân sự 2005, thì “ Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.”
Khởi kiện doanh nghiệp tư nhân
Câu hỏi: Khởi kiện doanh nghiệp tư nhân
Tôi là cán bộ tín dụng Ngân hàng Ngoại Thương. Tôi đang quản lý hồ sơ vay vốn của một doanh nghiệp tư nhân, hiện tại doanh nghiệp này đang có nợ quá hạn tại Ngân hàng tôi. Tôi đang tiến hành thủ tục để khởi kiện, nhưng mới đây doanh nghiệp tư nhân này đã đổi chủ sở hữu. Vậy bây giờ thủ tục khởi kiện doanh nghiệp này thế nào?
Trách nhiệm bồi thường Nhà nước
Câu hỏi: Trách nhiệm bồi thường Nhà nước
Ông Nguyễn Văn A có một căn nhà đang cho B thuê ( giá trị xây dựng của nhà là 300 triệu đồng). Thời hạn thuê là 6 tháng, bắt đầu từ 01-01-2010 đến hết ngày 01-07-2010. Tiền thuê 5 triệu đồng/ tháng. B đã chuyển giao toàn bộ tiền thuê nhà ( 30 triệu đồng) cho A ngay tại thời điểm giao kết hợp đồng thuê. Ngày 01-04-2010, Chủ tịch UBND huyện X đã ra quyết định tháo dỡ nhà của ông A với lý do nàh xây dựng trái phép và lấn chiếm. Do nhà bị tháo dỡ, ông A không thể tiếp tục cho B thuê 3 tháng còn lại, nên ông A đã phải hoàn trả lại cho B 15 triệu đồng tiền thuê nhà. Ông A cho rằng, việc tháo dỡ nhà ông là trái pháp luật vì ông xây dựng có phép, không lấn chiếm và cũng không vi phạm các quy định qui chuẩn xây dựng. Ngày 20-04-2010, ông A làm đơn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X giải quyết khiếu nại xem xét quyết định tháo dỡ nhà của ông là trái pháp luật. Ông A làm đơn yêu cầu bồi thường: